Tái cấu trúc, đa dạng dòng vốn cho nền kinh tế

Trong giai đoạn phát triển mới, để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số đòi hỏi không chỉ cần nguồn lực tài chính lớn lến đến gần 40% GDP, mà còn một tư duy mới về cấu trúc thị trường tài chính, trong đó thị trường vốn, tín dụng ngân hàng và các dòng vốn quốc tế phải vận hành đồng bộ, cân bằng và hỗ trợ lẫn nhau.

Doanh nghiệp sản xuất cần nguồn vốn trung và dài hạn ổn định từ thị trường vốn

Doanh nghiệp sản xuất cần nguồn vốn trung và dài hạn ổn định từ thị trường vốn

Giải quyết các vấn đề mang tính cấu trúc

Các chuyên gia đánh giá, thị trường vốn của Việt Nam hiện vẫn còn nhỏ và chưa phát huy vai trò dẫn dắt. Vốn cổ phiếu chỉ chiếm khoảng 10% GDP, trong khi hệ thống ngân hàng vẫn cung ứng tới 40% vốn cho nền kinh tế. Dù tỷ lệ tiết kiệm của người dân khá cao, khoảng 37% GDP, nhưng môi trường đầu tư chưa đủ thông thoáng để dòng tiền chảy mạnh vào sản xuất và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh của quy mô tài chính cũng kéo theo rủi ro liên thông giữa các thị trường. Hệ thống ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi thị trường vốn và các định chế phi ngân hàng phát triển chưa tương xứng. Các hạn chế về hạ tầng tài chính, chuẩn mực báo cáo quốc tế, giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng tiếp tục là những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Đáng chú ý, hiện có hơn 2.700 dự án đang bị vướng mắc, làm “đóng băng” một lượng vốn rất lớn. Cùng với đó là tình trạng đầu cơ vàng, bất động sản và thất thoát do lãng phí, tham nhũng, khiến nguồn lực chưa được phân bổ hiệu quả vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng.

Trong khi đó, các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, trong giai đoạn 2026 - 2031, Việt Nam có thể cần tới hơn 334 tỷ USD cho phát triển hạ tầng, trong đó ngân sách nhà nước và nguồn lực công chỉ có thể đáp ứng khoảng một nửa. Khoảng trống còn lại buộc Việt Nam phải đa dạng hóa mạnh mẽ các kênh huy động vốn, nhất là thông qua thị trường vốn và các mô hình hợp tác công tư, đồng thời triển khai hiệu quả các cơ chế giảm thiểu rủi ro để thu hút vốn tư nhân và vốn nước ngoài dài hạn.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung nêu rõ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số giai đoạn 2026 - 2030 thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước. Để đạt mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội sẽ đạt gần 40% GDP, đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy, hành động cũng như cách thức huy động, phân bổ và quản lý nguồn lực. Với phương châm lấy nội lực làm chiến lược lâu dài, ngoại lực là yếu tố quan trọng, thường xuyên và mang tính đột phá, việc huy động đủ vốn là nhiệm vụ lớn, song phân bổ đúng trọng tâm, sử dụng hiệu quả và minh bạch để tạo ra giá trị gia tăng cao còn quan trọng hơn.

Vận hành đồng bộ, cân bằng và hỗ trợ lẫn nhau

Từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là Nhật Bản, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, thị trường vốn chỉ có thể phát triển bền vững khi giải quyết được các vấn đề mang tính cấu trúc. Trước hết, thị trường phải có “hàng hóa”. Với các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện niêm yết, trái phiếu là công cụ rất quan trọng, nhưng việc phát hành cần gắn với tài sản bảo đảm hoặc xếp hạng tín nhiệm, đồng thời có cơ chế giám sát phù hợp. Nếu không, doanh nghiệp sẽ rất khó huy động vốn một cách bền vững. Đối với thị trường cổ phiếu, vấn đề sở hữu nước ngoài được đặt ra như một nút thắt lớn. Không chỉ là câu chuyện nới “room” ngoại, mà là việc thiết kế lại các quy định về sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn và các ngân hàng nhóm Big4, nhằm thu hút hiệu quả dòng vốn dài hạn trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Bên cạnh đó, các quy định về IPO và niêm yết cần tiếp tục được rà soát và hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi, yêu cầu về cải cách thể chế, minh bạch thông tin và chuẩn mực quản trị ngày càng cao. Nếu không có cải cách đủ mạnh, thị trường khó có thể hấp thụ được dòng vốn lớn và dài hạn.

Song TS. Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam khẳng định, vấn đề của thị trường vốn hiện nay không phải là thiếu vốn, mà chỉ thiếu những dự án và những doanh nghiệp thực sự hoạt động hiệu quả, chất lượng. Riêng thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường vốn nói chung chỉ là kênh để dẫn vốn phục vụ việc thúc đẩy và phát triển nền kinh tế, là công cụ và phương tiện, chứ không phải là mục đích. Hiệu quả của các công cụ này phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển và việc hướng tới mục đích cụ thể trong từng giai đoạn. Do đó, để thị trường vốn hoạt động hiệu quả, phục vụ tốt cho tăng trưởng, cần tạo ra một cơ chế sàng lọc tự nhiên trong quá trình huy động và phân bổ vốn của thị trường tài chính. Nền tảng quan trọng nhất để tạo ra cơ chế sàng lọc này là thông tin minh bạch và cơ chế giám sát để đảm bảo thị trường vận hành công bằng, minh bạch. Thị trường vốn muốn phát triển lành mạnh, bền vững, phụ thuộc quan trọng nhất vào chất lượng của "con nợ".

Từ góc nhìn của nhà đầu tư tổ chức, bà Lương Thị Mỹ Hạnh, Giám đốc Quản lý tài sản, Khối trong nước, Dragon Capital Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang đứng trước thời điểm mang tính bước ngoặt của kỷ nguyên phát triển mới, nhưng “bất lợi lớn nhất là yếu tố thời gian”. Từ khoảng năm 2039, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn dân số già, trong khi mục tiêu trở thành nước thu nhập cao được đặt ra cho năm 2045. Để tận dụng hiệu quả cơ hội, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của các quỹ đầu tư trong phát triển thị trường vốn. Quỹ đầu tư đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ tiết kiệm ngắn hạn trong dân cư thành nguồn vốn sản xuất; là dòng vốn dài hạn giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; đồng thời thúc đẩy chuẩn mực quản trị doanh nghiệp thông qua yêu cầu minh bạch và trách nhiệm giải trình. Mục tiêu đưa quy mô quỹ đầu tư đạt khoảng 5% GDP vào năm 2030 là tham vọng nhưng cần thiết hướng đến. Để đạt được mục tiêu này, cần tháo gỡ các rào cản pháp lý về kênh phân phối, đặc biệt là quy định chưa cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp phân phối chứng chỉ quỹ; đồng thời khuyến khích đầu tư dài hạn thông qua chính sách ưu đãi thuế, hoàn thiện khung pháp lý cho quỹ hưu trí và đẩy mạnh giáo dục tài chính quốc gia.

Theo ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, dư địa thị trường hỗ trợ huy động vốn cho phát triển kinh tế còn rất lớn. Song, việc thúc đẩy phát triển thị trường vốn một cách quá mức, đốt cháy giai đoạn, có thể dẫn đến những tác động tiêu cực không mong muốn. Để phát triển bền vững, thị trường cần phải phát triển đầy đủ các định chế cứng (như các tổ chức định mức tín nhiệm, tổ chức định giá trái phiếu) và các định chế mềm (như đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn và khả năng nhận biết rủi ro của nhà đầu tư). Cùng với đó, một số chuyên gia khác một lần nữa nhấn mạnh, thị trường vốn phải thực sự trở thành trụ cột cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, trên nền tảng thể chế minh bạch, công nghệ hiện đại và quản trị hiệu quả.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tai-cau-truc-da-dang-dong-von-cho-nen-kinh-te-176040.html