Tái cấu trúc phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia:Đầu tư lớn phải đi cùng cơ chế đặc biệt
Sau hơn 2 thập niên hình thành với nhiều kỳ vọng, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đang đứng trước một bước ngoặt mới.
Từ thực tế vận hành còn nhiều điểm nghẽn đến yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược trong giai đoạn 2026-2030, vấn đề không còn là có đầu tư hay không, mà là đầu tư thế nào để các phòng thí nghiệm thực sự trở thành “thỏi nam châm” thu hút nhân tài và là hạt nhân của đổi mới sáng tạo quốc gia.

Nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và năng lượng, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Thành tựu và những điểm nghẽn
Hiện cả nước có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung ở 7 lĩnh vực ưu tiên, như: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, cơ khí - tự động hóa, hóa dầu, năng lượng và một số lĩnh vực khoa học, công nghệ khác. Trong đó, khối 4 đơn vị nòng cốt gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đang nắm giữ phần lớn nguồn lực nghiên cứu cốt lõi của đất nước.
GS.TS Trần Thị Thanh Tú, Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, hệ thống này hiện chiếm khoảng 72% nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao; làm chủ khoảng 60% công nghệ lõi; đóng góp khoảng 50% công bố quốc tế của cả nước, trong đó có nhiều công trình thuộc nhóm 1% và 5% bài báo được trích dẫn nhiều nhất thế giới trên các tạp chí hàng đầu như Nature và Science.
Tuy nhiên, phía sau các kết quả tích cực là những điểm nghẽn tồn tại kéo dài. Phần lớn trang thiết bị được đầu tư từ những năm 2000, đến nay đã lạc hậu 2-3 thế hệ so với quốc tế. Với các lĩnh vực “thâm dụng” thiết bị như công nghệ sinh học, vật liệu, công nghệ thông tin, chu kỳ đổi mới công nghệ chỉ còn 3-5 năm, khiến máy móc nhanh chóng lỗi thời. Không ít phòng thí nghiệm rơi vào tình trạng thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng, thậm chí phải “đắp chiếu” chỉ vì những hỏng hóc nhỏ.
Cơ chế tự chủ cũng đặt ra thách thức lớn. Sau thời gian đầu được cấp kinh phí chi thường xuyên, các phòng thí nghiệm phải vận hành theo cơ chế tự chủ toàn diện. Song, nhiều đơn vị chưa được phân cấp đầy đủ về nhân sự, tài sản, tài chính. Việc xây dựng biểu phí dịch vụ để mở cửa, chia sẻ hạ tầng cũng gặp vướng mắc trong phê duyệt. Hệ quả là không ít phòng thí nghiệm được thiết kế theo phương thức “mở” nhưng lại vận hành khép kín, thiếu nguồn lực để hợp tác và khai thác hiệu quả.
Những tồn tại này đặt ra yêu cầu phải tái thiết hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, nhất là khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển các công nghệ chiến lược, gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh công nghệ và chủ quyền số.
Đầu tư có trọng tâm, cơ chế tài chính đặc thù

Nghiên cứu khoa học tại phòng thí nghiệm của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
Giai đoạn 2026-2030, phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ quốc gia được xác định cần tập trung vào việc xây dựng, nâng cấp và vận hành hiệu quả 9 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia cùng 3 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm phục vụ công nghệ chiến lược. Nội dung này đã được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Theo định hướng, 12 đơn vị hạt nhân này sẽ được lựa chọn để tập trung đầu tư đồng bộ, tránh dàn trải. Điểm đáng chú ý là cơ chế tài chính đặc thù: Nhà nước dự kiến bảo đảm 100% kinh phí chi thường xuyên trong 5 năm đầu vận hành; đồng thời, mỗi năm cấp kinh phí cho các đề tài nghiên cứu sử dụng phòng thí nghiệm tương đương khoảng 30% giá trị đầu tư của phòng thí nghiệm. Các phòng thí nghiệm được phép thuê giám đốc chuyên trách, trả lương bộ máy vận hành theo cơ chế thị trường; bên cạnh nhiệm vụ công được hỗ trợ, một số hoạt động có thể cho thuê để tạo thêm nguồn thu phục vụ vận hành.
Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, phòng thí nghiệm trọng điểm phải hiện đại tương đương các nước phát triển, kể cả trong lĩnh vực khoa học xã hội. Đặc biệt, việc xây dựng “phòng thí nghiệm chính sách” dựa trên dữ liệu lớn và công nghệ mô phỏng sẽ là bước đi đột phá, thay thế cách tiếp cận truyền thống bằng mô hình phân tích, thử nghiệm chính sách trên nền tảng dữ liệu.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đặt mục tiêu hình thành 20 nhóm nghiên cứu mạnh và đào tạo 1.000 tiến sĩ gắn với các đề án trọng điểm. Một nền tảng số kết nối các phòng thí nghiệm cũng sẽ được xây dựng để chia sẻ nguồn lực, theo dõi và đo lường hiệu quả.
Từ góc độ cơ sở đào tạo - nghiên cứu, Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất tái thiết toàn diện mô hình phòng thí nghiệm trọng điểm theo hướng tự chủ, mở và gắn với thị trường.
Theo GS.TS Trần Thị Thanh Tú, phòng thí nghiệm cần được phân loại theo hiệu quả hoạt động: Phòng vận hành tốt sẽ được nâng cấp thành phòng thí nghiệm quốc gia theo chuẩn mới; phòng kém hiệu quả cần sáp nhập hoặc giải thể để tránh dàn trải nguồn lực. Cùng với đó là trao quyền tự chủ toàn diện cho giám đốc phòng thí nghiệm trong quyết định nhân sự, phân bổ ngân sách theo KPI; thúc đẩy mô hình liên kết “ba nhà”: Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, khi có cơ chế phù hợp, phòng thí nghiệm trọng điểm có thể thu hút chuyên gia quốc tế, hình thành các mô hình hợp tác hiệu quả. Bài học rút ra là: Đầu tư lớn chỉ tạo nền tảng; điều quyết định thành công nằm ở cơ chế quản trị, đánh giá minh bạch và chương trình đặt hàng dài hạn.
Việc tái cấu trúc hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm vì thế không chỉ dừng ở việc bổ sung kinh phí, mà đòi hỏi phải thiết kế lại toàn diện cơ chế vận hành. Chỉ khi đầu tư đi cùng cơ chế đặc biệt, các phòng thí nghiệm mới thực sự trở thành hạt nhân của đổi mới sáng tạo quốc gia.













