Tái hiện hai thập niên tân nhạc Hà Nội
Hơn 70 năm sau khi được thu trên đĩa 78 vòng/phút, tiếng hát Ngọc Bảo trong “Tiếng đàn tôi” lại vang lên giữa Hà Nội.

Hiện vật hộp nhạc cơ, đĩa nhạc được đặt chế tác riêng tại Mỹ để trình diễn “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao.
Trong khuôn khổ của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026, Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội - Bảo tàng Hà Nội đang thực hiện trưng bày “Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934 - 1954)”, giới thiệu hàng trăm tư liệu, hiện vật và hình ảnh Hà Nội của những thập niên đầu nền tân nhạc.
Âm nhạc từng được mua, giữ và trao tặng
Điểm thú vị của trưng bày là những tờ nhạc tưởng như rất bình thường, nhưng từng là một phần của đời sống văn hóa 70 năm trước. Từ bộ sưu tập khoảng 2.000 tờ nhạc, 102 tư liệu được lựa chọn giới thiệu. Có bản nhạc gốc, tờ nhạc đã phát hành, đĩa hát, ảnh nhạc sĩ, ca sĩ và những dấu mốc quan trọng của tân nhạc Hà Nội.
Nhìn vào những tờ nhạc ấy có thể thấy âm nhạc khi đó đã trở thành một sản phẩm được công chúng tìm mua. Tờ nhạc thường có cả phần ký âm, lời ca và tranh minh họa. Người ta mua về để đọc, để hát, để giữ hoặc tặng nhau. Các nhà xuất bản còn đánh số từng ấn bản, ghi năm phát hành.
Khoảng năm 1953 - 1954, một tờ nhạc có giá 6 - 7 đồng, trong khi một cuốn sách khoảng 200 trang có giá 15 đồng. Bởi vậy, những bản nhạc được yêu thích có thể được in tới hàng vạn bản.

Giới nghiên cứu, nhạc sĩ tại tọa đàm trong khuôn khổ trưng bày.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý, người sở hữu bộ sưu tập được sử dụng trong trưng bày cho biết, các nhà xuất bản đã góp phần đưa tân nhạc đến với đông đảo công chúng. Trong đó, Tinh Hoa là một trong những nhà xuất bản hoạt động tích cực nhất. “Đoàn vệ quốc quân” của Phan Huỳnh Điểu được nhà xuất bản này trả 600 đồng tiền bản quyền ngay khi nhận tác phẩm.
Những bài hát về tình yêu, quê hương cũng có đời sống tương tự. “Ai về sông Tương” được lưu giữ với hai bản in khác nhau, cho thấy những giai điệu trữ tình cũng có thể trở thành những sản phẩm được công chúng tìm đọc, tìm hát.
“Những tờ nhạc ấy vì thế không đơn thuần là giấy in lời ca và khuông nhạc. Chúng là những vật chứng cho thấy âm nhạc đã bước ra khỏi phạm vi của những người sáng tác để trở thành một phần của đời sống xã hội”, nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý cho hay.
Từ giữa những năm 1930, tân nhạc hay còn gọi là nhạc cải cách bắt đầu hình thành. Những nhạc sĩ trẻ, đặc biệt ở các thành phố, thử nghiệm việc đưa lời Việt vào những giai điệu phương Tây, đồng thời tìm kiếm một ngôn ngữ âm nhạc mới.
Cùng thời với Thơ Mới và văn xuôi hiện đại, tân nhạc nhanh chóng trở thành một hình thức biểu đạt được giới trẻ thành thị đón nhận. Âm nhạc xuất hiện trong rạp chiếu bóng, đài phát thanh, phòng trà, các buổi ca nhạc và dần trở thành một phần của đời sống.
Hà Nội cũng trở thành một trong những trung tâm quan trọng của dòng nhạc mới. Những cái tên như Văn Cao, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh… lần lượt tạo nên dấu ấn riêng. Qua sáng tác của họ, Hà Nội hiện lên với nhiều sắc thái.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý nhận xét, tờ nhạc có thể được xem như một dạng sản phẩm văn hóa phổ biến của thời kỳ đó. Người nghe không chỉ nghe ca khúc qua biểu diễn hay phát thanh mà còn có thể mua chính bài hát ấy về nhà. Họ có thể tự hát, học hát, giữ lại hoặc trao tặng.

Giai điệu cũ tìm đường trở lại
Theo giới nghiên cứu, sự ra đời của tân nhạc thường được nhìn nhận như sự hình thành của một cách sáng tác hiện đại trên nền âm nhạc truyền thống. Nhưng nhìn kỹ hơn, cái mới ấy không hoàn toàn tách khỏi những mạch nguồn văn hóa Việt. Những sáng tác như “Con thuyền không bến”, “Buồn tàn thu” của Văn Cao cho thấy các nhạc sĩ tiên phong vẫn tìm cách tạo màu sắc riêng.
Tân nhạc cũng có mối liên hệ mật thiết với Thơ Mới. Nhiều bài thơ được phổ nhạc, trong đó có những tác phẩm của Nguyễn Bính như: Cô hái mơ, Trăng sáng vườn chè. Cả thơ và nhạc cùng phản ánh sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, những rung động tình cảm và nhu cầu biểu đạt mới.
Theo TS. Trần Ngọc Hiếu, không nên chỉ nhìn tân nhạc thời kỳ đầu qua những ca khúc lãng mạn. Bên cạnh những bài hát về tình yêu, thiên nhiên còn có những tác phẩm mang tinh thần vui tươi, cộng đồng như “Hè về” của Hùng Lân hay “Đoàn lữ nhạc” của Đỗ Nhuận. Điều đó chứng minh diện mạo tân nhạc phong phú hơn nhiều so với hình dung quen thuộc về một dòng nhạc chủ yếu viết về tình yêu và nỗi buồn.
Tân nhạc không đứng ngoài lịch sử, khi xã hội biến động, những bài hát cũng mang theo tâm tư và thông điệp của thời đại. “Đoàn vệ quốc quân” là một trường hợp khi trở thành tiếng hát của một thế hệ trong những năm tháng đất nước có nhiều biến động.
Một ví dụ khác là “Cô Tú” của Long Châu - ca khúc cổ động phong trào Bình dân học vụ với lời ca gần gũi, dễ nhớ, giai điệu mang màu sắc xẩm và hình thức giao duyên. Âm nhạc khi ấy không chỉ để thưởng thức mà còn trở thành cách truyền tải thông điệp.

Trưng bày giới thiệu 102 bản nhạc, hiện vật về những dấu mốc quan trọng của nền tân nhạc Hà Nội giai đoạn 1934 - 1954.
Đó cũng là lý do Hà Nội có một vị trí đặc biệt trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hòa - Giám đốc Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội nhận định, không có địa phương nào trên cả nước lại có nhiều nhạc sĩ và có nhiều bài hát viết về mình như Hà Nội.
Nhìn về hai thập niên tân nhạc Hà Nội, giới nghiên cứu đặt câu hỏi làm thế nào để những giá trị ấy tiếp tục sống? Sau hơn 70 năm, bản thu “Tiếng đàn tôi” của Ngọc Bảo vẫn có thể vang lên và tạo nên sự xúc động. Những tờ nhạc cũ vẫn khiến người xem dừng lại trước những nét chữ, hình minh họa và tên tuổi đã đi vào lịch sử.
Từ những tờ nhạc được in hàng vạn bản đến bản thu trên đĩa 78 vòng/phút, tân nhạc từng bước đi vào đời sống Hà Nội bằng những con đường rất cụ thể. Và hôm nay, từ bảo tàng, sân khấu đến những cách phối khí mới, những giai điệu ấy lại tìm được đường trở về với công chúng.
Theo TS. Trần Ngọc Hiếu, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên mà cần “trẻ hóa” để các giá trị truyền thống đến gần công chúng hôm nay. Nhạc sĩ Giáng Son cũng cho rằng, việc làm mới là hướng tích cực. Năm 2024, “Áo mùa đông” của Đỗ Nhuận được trình diễn trong “Anh trai vượt ngàn chông gai”; “Mẹ yêu con” của Nguyễn Văn Tý, làn điệu “Đào liễu” cũng được tiếp cận qua những cách phối khí mới.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/tai-hien-hai-thap-nien-tan-nhac-ha-noi-post792570.html

