Tái thiết liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp

Sau hơn 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp đã có bước tiến nhưng chưa bền vững, còn phụ thuộc hỗ trợ và thiếu cơ chế thị trường. Dự thảo Nghị định mới được kỳ vọng tạo bước chuyển căn bản: từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái chuỗi giá trị hiện đại, minh bạch, gắn với tiêu chuẩn, dữ liệu và chia sẻ rủi ro.

Sau hơn một thập kỷ thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp, khái niệm “liên kết chuỗi giá trị” không còn xa lạ. Từ chủ trương trong các nghị quyết của Đảng đến chính sách cụ thể của Chính phủ, đặc biệt là Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, Việt Nam đã từng bước định hình mô hình tổ chức sản xuất gắn với thị trường, thay cho cách làm manh mún, nhỏ lẻ trước đây.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến cuối năm 2025, cả nước đã có gần 3.000 dự án, kế hoạch liên kết được phê duyệt, với sự tham gia của hàng nghìn hợp tác xã, doanh nghiệp và hơn 200.000 hộ nông dân. Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo hình thức liên kết đã tăng từ khoảng 10% trước năm 2018 lên trên 30%. Dù vậy, chất lượng liên kết vẫn chưa được như mong muốn.

Khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng đã có trên 7.600 hộ tham gia chuỗi giá trị cà phê. Ảnh: H.Thoan

Khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng đã có trên 7.600 hộ tham gia chuỗi giá trị cà phê. Ảnh: H.Thoan

Liên kết nhiều nhưng chưa “chặt”

Dù số lượng mô hình liên kết tăng nhanh, song tính bền vững vẫn là điểm nghẽn lớn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, không ít mô hình chỉ tồn tại trong thời gian được hỗ trợ từ ngân sách, sau đó nhanh chóng rơi vào trạng thái cầm chừng hoặc tan rã. Hợp đồng liên kết thiếu ràng buộc, cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro chưa rõ ràng, khiến việc phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra khi giá thị trường biến động.

Trong nhiều chuỗi giá trị, hợp tác xã - mắt xích được kỳ vọng đóng vai trò tổ chức sản xuất, vẫn chủ yếu dừng ở cung cấp đầu vào như giống, vật tư. Khâu chế biến, tiêu thụ tạo ra giá trị gia tăng lớn vẫn do doanh nghiệp nắm giữ, nhưng sự liên kết giữa các bên chưa đủ chặt để tạo thành một hệ thống vận hành ổn định.

Một hạn chế khác là quy mô liên kết còn nhỏ và phân tán. Số lượng hợp tác xã tham gia liên kết vẫn thấp so với tổng số đang hoạt động. Việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung, đạt chuẩn theo yêu cầu thị trường xuất khẩu còn nhiều khó khăn do thiếu đồng bộ về hạ tầng, tiêu chuẩn chất lượng và hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Ở góc độ chính sách, những hỗ trợ hiện hành cũng bộc lộ nhiều bất cập. Mức hỗ trợ hạ tầng còn hạn chế, nội dung hỗ trợ chưa bao quát các yếu tố then chốt như logistics, chuyển đổi số hay sản xuất xanh. Đặc biệt, các công cụ tài chính quan trọng như tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp và cơ chế chia sẻ rủi ro trong chuỗi vẫn thiếu hoặc chưa phát huy hiệu quả.

Trong khi đó, thủ tục hành chính để tiếp cận chính sách lại khá phức tạp, vượt quá năng lực của nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ. Quy trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án kéo dài, làm giảm tính linh hoạt của chính sách trong bối cảnh thị trường biến động nhanh.

Một “khoảng trống” đáng chú ý là nhiều chủ thể quan trọng trong chuỗi giá trị như thương lái, đơn vị logistics, tổ chức dịch vụ trung gian chưa được đưa vào khung chính sách một cách đầy đủ. Điều này khiến chuỗi giá trị bị đứt gãy ở những khâu then chốt, đặc biệt là khâu lưu thông và kết nối thị trường. Các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu - như truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn hay chuyển đổi số - cũngchưa được thể chế hóa đầy đủ trong các chính sách liên kết hiện hành.

Chuyển từ hỗ trợ sang kiến tạo hệ sinh thái

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu của thị trường ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị hiện đại, minh bạch và bền vững là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, việc ban hành Nghị định mới về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững là hết sức cần thiết nhằm khắc phục các hạn chế của Nghị định số 98/2018/NĐ-CP.

Hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững và lấy ý kiến góp ý. Điểm cốt lõi của dự thảo Nghị định là thay đổi cách tiếp cận từ “khuyến khích liên kết sản xuất - tiêu thụ” sang phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, bao trùm toàn bộ các khâu từ đầu vào, sản xuất, thu hoạch đến chế biến và tiêu thụ. Chuỗi giá trị không còn là một tập hợp các hợp đồng rời rạc, mà trở thành một hệ thống vận hành theo cơ chế thị trường, có tiêu chuẩn, có dữ liệu và có sự ràng buộc lợi ích giữa các chủ thể.

Dự thảo Nghị định cũng hướng tới chuẩn hóa các khái niệm và phạm vi điều chỉnh, làm rõ thế nào là chuỗi giá trị, liên kết chuỗi, chủ thể trung tâm hay vùng nguyên liệu. Việc phân định rõ giữa liên kết chuỗi và hoạt động mua bán nông sản thông thường sẽ giúp tránh tình trạng lợi dụng chính sách.

Một điểm mới đáng chú ý là việc thiết kế các mô hình chuỗi giá trị điển hình, như doanh nghiệp dẫn dắt, hợp tác xã làm trung tâm hoặc chuỗi giá trị mở. Điều này tạo không gian linh hoạt để các địa phương, ngành hàng lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện thực tế. Cùng với đó, hợp đồng liên kết được chuẩn hóa với các nội dung cụ thể về sản lượng, chất lượng, giá cả, quyền và nghĩa vụ của các bên. Cơ chế giá linh hoạt theo thị trường, thưởng chất lượng hay các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng được khuyến khích áp dụng, nhằm tăng tính ổn định của chuỗi.

Đáng chú ý, dự thảo Nghị định bổ sung các công cụ bảo đảm thực hiện liên kết như đặt cọc, ký quỹ, bảo lãnh, bảo hiểm nông nghiệp và cơ chế chia sẻ rủi ro. Đây là những yếu tố then chốt để chuyển từ liên kết “niềm tin” sang liên kết “thể chế”.

Song song đó là quy định cụ thể về phát triển vùng nguyên liệu - nền tảng của mọi chuỗi giá trị. Vùng nguyên liệu không chỉ là diện tích sản xuất, mà phải gắn với tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và thị trường tiêu thụ.

Một thay đổi có ý nghĩa lớn là chuyển từ “dự án liên kết” sang “kế hoạch liên kết” như công cụ trung tâm. Cách tiếp cận này giúp giảm bớt thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất kinh doanh. Hệ thống chính sách hỗ trợ cũng được thiết kế lại theo hướng toàn diện hơn, bao gồm từ tư vấn xây dựng liên kết, đầu tư hạ tầng, phát triển sản xuất, thị trường, thương hiệu, đến khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các công cụ tài chính.

Đặc biệt, dự thảo nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống dữ liệu và cơ chế giám sát chuỗi giá trị trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tăng cường phân cấp cho địa phương trong tổ chức thực hiện. Cùng với đó là cơ chế hậu kiểm và xử lý vi phạm rõ ràng, nhằm bảo đảm kỷ luật và hiệu quả thực thi chính sách.

Liên kết chuỗi giá trị là điều kiện bắt buộc nếu nông nghiệp Việt Nam muốn nâng cao giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, nếu được hoàn thiện và triển khai hiệu quả, sẽ mở ra cơ hội tái thiết nền nông nghiệp bền vững hơn trong giai đoạn tới.

Hà Lan

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/tai-thiet-lien-ket-chuoi-gia-tri-nong-nghiep-10415037.html