Tấm danh thiếp đặc biệt của người thầy, người lính Hoàng Văn Thung

Tấm danh thiếp được học trò cũ lưu lại chỉ ghi vỏn vẹn: “Hoàng Văn Thung - Nhà giáo - Cựu chiến binh” nhưng đã khắc họa trọn vẹn vai trò cao quý của thầy.

Trong kí ức của nhiều thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thầy Hoàng Văn Thung (Hoàng Thung) là người có thể khiến những kiến thức ngữ âm học, ngữ pháp học vốn khô khan trở nên gần gũi, sinh động. Đằng sau những bài giảng hóm hỉnh, dễ hiểu là một nhà giáo nghiêm túc với chuyên môn, một nhà khoa học luôn đề cao tính ứng dụng của tri thức và một người lính từng đi qua những năm tháng kháng chiến.

Trong số những kỷ vật được người học trò cũ lưu giữ từ những năm 1980 - 1990 có tấm danh thiếp của thầy, trên đó chỉ ghi 3 dòng chữ: “Hoàng Văn Thung - Nhà giáo - Cựu chiến binh”. Không có học hàm, học vị hay danh hiệu, tấm danh thiếp vẫn khắc họa trọn vẹn hai vai trò cao quý của thầy: người đứng trên bục giảng và người từng cầm súng bảo vệ Tổ quốc.

Thầy Hoàng Văn Thung, người thầy yêu quý của bao thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Thầy Hoàng Văn Thung, người thầy yêu quý của bao thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Người thầy biến kiến thức khô khan thành những giờ học đáng nhớ

Theo tư liệu của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thầy Hoàng Văn Thung sinh năm 1934, quê gốc xứ Nghệ. Trước khi bước lên bục giảng đại học, thầy đã có mười năm trong quân ngũ (1950–1960), tham gia các chiến dịch Biên giới, Hòa Bình và Điện Biên Phủ.

Thầy Hoàng Văn Thung (thứ 6 từ phải qua) và các thầy cô cựu chiến binh của Khoa nhận hoa từ sinh viên. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Thầy Hoàng Văn Thung (thứ 6 từ phải qua) và các thầy cô cựu chiến binh của Khoa nhận hoa từ sinh viên. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Rời quân ngũ, thầy theo học Khoa Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (khóa 1960–1963) và được giữ lại làm giảng viên sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh công tác chuyên môn, thầy còn tích cực tham gia công tác công đoàn và lực lượng tự vệ của Khoa. Vào năm 1972, thầy là Đại đội phó Tự vệ Khoa Văn, chỉ huy một phân đội súng cao xạ bảo vệ Hà Nội.

Từ chiến trường đến giảng đường, cuộc đời thầy Hoàng Thung đi qua những chặng đường khác nhau, nhưng ở mỗi chặng đường đều in đậm tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm với công việc.

Với nhiều thế hệ sinh viên, dấu ấn riêng của thầy Hoàng Thung thể hiện ở khả năng đưa những khái niệm ngôn ngữ học trừu tượng đến gần với người học. Ngữ âm học, ngữ pháp học từng là những môn học khó tiếp cận nhưng qua cách diễn giải mộc mạc, những ví dụ độc đáo cùng lối giảng dí dỏm của thầy, kiến thức trở nên dễ hiểu và dễ nhớ.

Thầy Hoàng Thung (người thứ 3 từ trái sang, hàng 2) và các thầy cô trong bộ môn Ngôn ngữ năm 1973. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Thầy Hoàng Thung (người thứ 3 từ trái sang, hàng 2) và các thầy cô trong bộ môn Ngôn ngữ năm 1973. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Nhớ về người thầy của mình, ông Lê Hữu Tỉnh, cựu sinh viên khóa 19, sau này cũng trở thành giảng viên Khoa Ngữ văn, từng viết: “Đặc biệt, thầy sử dụng những dẫn liệu, dẫn chứng minh họa rất độc đáo, sinh động, dễ nhớ. Dẫn chứng về “câu đặc biệt” là: “Chửi. Kêu. Đấm. Thụi. Bịch.” (Nguyễn Công Hoan). Dẫn chứng về “câu mơ hồ” là: “Dứa thích Na hơn Mít””

Những dẫn liệu gần gũi, đôi khi khiến cả lớp bật cười, không chỉ làm giờ học bớt nặng nề mà còn giúp sinh viên nhận diện rõ hơn những hiện tượng ngôn ngữ đang được phân tích.

Trong nghiên cứu và biên soạn, thầy Hoàng Thung đặc biệt quan tâm đến những vấn đề có tính ứng dụng, thực hành. Thầy từng đảm nhiệm vị trí tổ phó Tổ Ngôn ngữ, làm việc cùng GS. Đỗ Hữu Châu và các đồng nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu tiếng Việt. Thầy tham gia biên soạn giáo trình “Tiếng Việt hiện đại - phần Ngữ âm học” (NXB Giáo dục, 1972) cùng PGS Cù Đình Tú và PGS. NGƯT. Nguyễn Nguyên Trứ. Đồng thời, thầy còn cộng tác với GS. TS Diệp Quang Ban trong các công trình về ngữ pháp tiếng Việt.

Tiêu biểu trong số đó có bộ Ngữ pháp tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1983) và cuốn Thực hành ngữ pháp tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1993) do Hoàng Văn Thung chủ biên, với sự tham gia biên soạn của GS.TS. Diệp Quang Ban. Những tài liệu này góp phần phục vụ công tác đào tạo, giảng dạy tiếng Việt trong các trường sư phạm.

Ngoài đóng góp cho giáo dục đại học, thầy còn tham gia biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, lớp 5 từ những năm 1984 - 1985 và nhiều sách tham khảo dành cho học sinh phổ thông.

Từ giáo trình chuyên ngành đến tài liệu phục vụ việc học tiếng Việt ở nhà trường, những công trình ấy cho thấy mối quan tâm nhất quán của thầy đối với việc chuyển hóa tri thức ngôn ngữ thành kiến thức có thể giảng dạy, thực hành và vận dụng. Đó cũng là hướng đi có ý nghĩa thiết thực đối với một nhà giáo sư phạm: nghiên cứu không tách rời lớp học, còn tri thức khoa học phải tìm được con đường đến với người học.

“Nốt trầm xao xuyến” của một cuộc đời giản dị, lạc quan, chân thành, nồng hậu

Nhìn lại cuộc đời thầy Hoàng Thung, có lẽ, những đóng góp và dấu ấn không phải ở học hàm, học vị hay danh hiệu. Theo hồi ức của người học trò cũ, đến khi nghỉ hưu, thầy vẫn chưa có những danh hiệu tương xứng với những năm tháng cống hiến. Danh hiệu lớn nhất của thầy, chính là sự yêu quý, ghi nhớ, tri ân của học trò về một người thầy với những tiết học bổ ích, lý thú; các công trình về ngữ âm, ngữ pháp tiếng Việt và đặc biệt, là sự tận tụy với học trò.

Cán bộ Khoa đến thăm nhà thầy tại làng Quần Ngọc, xã Yên Mỹ, Hưng Yên (cũ) - Nơi sơ tán của thầy trò Khoa Ngữ văn những năm 1965 – 1966. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Cán bộ Khoa đến thăm nhà thầy tại làng Quần Ngọc, xã Yên Mỹ, Hưng Yên (cũ) - Nơi sơ tán của thầy trò Khoa Ngữ văn những năm 1965 – 1966. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Tấm danh thiếp của thầy được cựu sinh viên Lê Hữu Tỉnh lưu giữ từ những năm 1980 - 1990, chỉ ghi ba dòng chữ giản dị: “Hoàng Văn Thung - Nhà giáo - Cựu chiến binh”. Không có học hàm, học vị hay danh hiệu, nhưng tấm danh thiếp đặc biệt ấy vẫn khắc họa trọn vẹn hai vai trò cao quý của thầy: người đứng trên bục giảng và người từng cầm súng bảo vệ Tổ quốc.

Ba dòng chữ ấy cũng gợi nhắc rằng giá trị của một nhà giáo không chỉ nằm ở sự ghi nhận chính thức, mà còn ở tri thức truyền trao, những thế hệ học trò trưởng thành và kí ức bền lâu của những người từng được thầy dìu dắt.

Cán bộ Khoa đến thăm nhà thầy tại làng Quần Ngọc, xã Yên Mỹ, Hưng Yên (cũ) - Nơi sơ tán của thầy trò Khoa Ngữ văn những năm 1965 – 1966. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Cán bộ Khoa đến thăm nhà thầy tại làng Quần Ngọc, xã Yên Mỹ, Hưng Yên (cũ) - Nơi sơ tán của thầy trò Khoa Ngữ văn những năm 1965 – 1966. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Dưới các bài đăng về thầy trên trang mạng xã hội, nhiều cựu sinh viên đã chia sẻ những hồi ức, kỷ niệm xúc động và lòng biết ơn sâu sắc đối với người thầy kính yêu của mình: “Không một sinh viên nào quên được Thầy! Thầy như một nghệ sĩ hài của ngôn từ độc đáo, hài hước và sâu sắc”, “Người thầy đặc biệt của khoa: người thầy - chiến sĩ. Các thế hệ sinh viên chúng em mãi mãi biết ơn thầy”, “Chúng con không quên những giờ lên lớp sinh động và vui vẻ của Thầy, không thấy ngôn ngữ là một môn khô, khó, khổ nữa”, “Thầy dạy ngôn ngữ cực kì dí dỏm và cuốn hút”, “Mãi tri ân và thương nhớ những người thầy âm thầm cống hiến vì quê hương đất nước và tương lai của thế hệ trẻ”…

Thầy Thung (bế con gái) cùng các thầy cô của Khoa. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

Thầy Thung (bế con gái) cùng các thầy cô của Khoa. Ảnh: Khoa Ngữ văn cung cấp.

TS Lương Thị Hiền, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xúc động chia sẻ: “Thầy Thung đã sống một cuộc đời giản dị, lạc quan, chân thành và nồng hậu. Tình yêu Thầy dành cho Bộ môn Ngôn ngữ, cho Khoa và các thế hệ học trò sẽ còn in trong ký ức chúng em. Từ căn nhà tập thể ở Đồng Xa đến mái ấm ở Yên Mỹ (Hưng Yên), mỗi lần đến thăm Thầy, những câu chuyện nghề, chuyện đời lại nối dài không dứt. Giờ đây, những câu chuyện ấy đã thành kỷ niệm, nhưng tình cảm ấm áp của Thầy còn mãi”.

Nhiều đồng nghiệp, sinh viên khoa Ngữ văn đã ví cuộc đời, những đóng góp của thầy Hoàng Thung như một “nốt trầm lặng lẽ”, một hành trình bền bỉ nhưng không phô trương, chỉ âm thầm cống hiến. Còn tôi, khi viết về thầy, lại chợt nhớ tới những câu thơ trong “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải:

“Ta làm con chim hótTa làm một cành hoaTa nhập vào hoà ca

Một nốt trầm xao xuyến”.

Thầy Hoàng Thung cũng như biết bao thế hệ người thầy, người lính đã lặng lẽ góp vào bản hòa ca mùa xuân đất nước những nốt trầm lặng lẽ mà xao xuyến, dâng tặng cho đời, cho dân tộc và bao thế hệ học trò.

Bài viết nằm trong loạt bài “Những nhà khoa học, những người thầy” nhằm tôn vinh những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo và vị thế của khoa học, giáo dục Việt Nam, đồng thời lan tỏa những giá trị mà họ để lại cho các thế hệ hôm nay.

•

Mai Loan

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/tam-danh-thiep-dac-biet-cua-nguoi-thay-nguoi-linh-hoang-van-thung-post1642595.html