Tâm lý 'dự phòng rủi ro' khiến nhiều gia đình muốn có con trai
Bộ Y tế ghi nhận báo cáo từ nhiều địa phương cho thấy áp lực từ gia đình, dòng họ và tâm lý “dự phòng rủi ro” khiến nhiều cặp vợ chồng có xu hướng lựa chọn giới tính thai nhi.
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh của Bộ Y tế cho thấy tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam đã giảm từ 112,2 bé trai/100 bé gái năm 2016 xuống 109/100 vào năm 2025. Con số này vẫn khá xa so với mức cân bằng tự nhiên (104-106/100), Bộ Y tế đánh giá xu hướng giảm hiện nay là tín hiệu tích cực bước đầu nhưng chưa thực sự bền vững.
Mức mất cân bằng cũng không đồng đều giữa các địa phương. Tại Bắc Ninh, Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ), Hưng Yên và Hải Dương (nay là Hải Phòng), tỷ số giới tính khi sinh trong giai đoạn 2021-2025 phổ biến ở mức 113-115 bé trai/100 bé gái, có thời điểm vượt 118/100.
Muốn có con trai như một cách “dự phòng”
Bộ Y tế cho rằng nguyên nhân sâu xa vẫn là định kiến giới và những giá trị phụ hệ tồn tại trong một số gia đình: Mong muốn có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ khi về già... Đa số báo cáo của các địa phương đồng thuận rằng tâm lý ưa thích con trai là nguyên nhân quan trọng.
Báo cáo từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (nay là Quảng Trị), Nam Định (nay là Ninh Bình) ghi nhận áp lực từ gia đình, dòng họ và tâm lý “dự phòng rủi ro” khiến nhiều cặp vợ chồng có xu hướng lựa chọn giới tính thai nhi.
Ở góc độ xã hội, “dự phòng rủi ro” có thể hiểu là một bộ phận các gia đình coi con trai như sự bảo đảm cho những bất định trong tương lai, nhất là khi về già. Khi quy mô gia đình ngày càng nhỏ, nhiều cặp vợ chồng chỉ sinh một hoặc hai con, mong muốn “phải có ít nhất một con trai” có thể trở nên mạnh hơn.

Bộ Y tế đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức tự nhiên sau 10 năm nữa. Ảnh: Thạch Thảo
Trong khi đó, hệ thống an sinh xã hội chưa đáp ứng đầy đủ, đặc biệt với người cao tuổi chưa có lương hưu hoặc trợ cấp ổn định, càng làm gia tăng tâm lý phụ thuộc vào con trai khi về già.
Cùng với tâm lý này, công nghệ y tế phát triển nhanh cũng tạo thêm điều kiện để mong muốn lựa chọn giới tính chuyển thành hành vi. Siêu âm, các kỹ thuật chẩn đoán giới tính sớm, xét nghiệm giới tính phôi thai ngày càng dễ tiếp cận, đặc biệt tại khu vực y tế tư nhân.
Việc kiểm soát vì thế không dễ dàng. Trong 10 năm, hơn 50 vụ vi phạm đã được xử lý, chủ yếu liên quan đến lưu hành quảng cáo các biện pháp xác định, lựa chọn giới tính thai nhi, phôi thai. Rất ít trường hợp bị phát hiện trực tiếp tại cơ sở y tế do hành vi chẩn đoán giới tính thường được thông báo bằng lời nói hoặc ký hiệu, không lưu trong hồ sơ bệnh án.
Linh hoạt biện pháp "cứng" và "mềm"
Nếu mất cân bằng kéo dài, chênh lệch nam nữ trong độ tuổi kết hôn sẽ gia tăng, dẫn tới tình trạng “thừa nam, thiếu nữ”, tạo sức ép hôn nhân trong tương lai. Tình trạng này còn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng bất bình đẳng giới, mua bán phụ nữ và trẻ em gái, bạo lực giới và những hệ lụy xã hội khác.
Theo dự thảo Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2026-2035, Bộ Y tế đặt mục tiêu tiếp tục kéo giảm tỷ số giới tính khi sinh, hướng tới mức 106 bé trai/100 bé gái vào năm 2035.
Để giải quyết vấn đề, cùng với các biện pháp “cứng” là hoàn thiện pháp luật, tăng kiểm tra, xử lý vi phạm, cần những giải pháp “mềm” nhằm giảm động lực lựa chọn con trai.
Đó là nâng cao vị thế trẻ em gái, hỗ trợ các gia đình sinh con một bề là gái, tăng cường an sinh xã hội và giảm tâm lý phụ thuộc vào con trai khi về già. Khi những rủi ro mà người dân lo ngại được giảm bớt, nhu cầu coi con trai như một “phương án dự phòng” cũng có thể giảm theo.
Bộ Y tế cho rằng Việt Nam đang ở giai đoạn chững lại của quá trình mất cân bằng giới tính khi sinh. Theo mô hình tính toán, đưa tỷ số này về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2035 là khả thi nhưng đòi hỏi các giải pháp phải được duy trì thường xuyên, liên tục và hiệu quả.

