Tản mạn Nobel
ĐNCT - Hằng năm cứ đầu tháng Mười, thế giới lại ngóng về Stockholm và Oslo chờ những cái tên được xướng lên ở giải Nobel. Hơn một thế kỷ qua, quanh giải thưởng đệ nhất danh giá này không chỉ có vinh quang mà còn vô số câu chuyện về tài năng, tư tưởng, sáng tạo, những lựa chọn và cả những bỏ sót.

Nữ nhà thơ, nhà tiểu luận và dịch giả người Canada Anne Carson là chủ nhân Giải Nobel Văn học 2026. Ảnh: Tư liệu
Với văn chương, câu chuyện Nobel lại dẫn đến một câu hỏi gần gũi và cũng có phần cấp thiết hơn: Bao giờ ta có tác phẩm lớn?
Sức hút Nobel
Mỗi mùa Nobel, Stockholm (Thụy Điển) lại trở thành nơi cả thế giới dõi theo, chờ thông tin chính thức người đoạt giải Nobel, riêng khôi nguyên Hòa bình thì nhìn về Oslo (Na Uy).
Ngoài số tiền thưởng lớn (khoảng 1,2 triệu USD) thì danh tiếng mà Nobel đem lại ở mức tột đỉnh. Có lẽ vinh dự thế gian dành cho một người khó có gì sánh bằng. Đoạt giải này là khắc vào nhân gian một dấu ấn lớn hơn cả ước mơ.
Giải Nobel được trao lần đầu năm 1901. Theo di chúc Alfred Nobel có năm lĩnh vực: Vật lý, Hóa học, Y học, Văn học và Hòa bình. Đến năm 1968, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển lập thêm Giải thưởng Kinh tế học tưởng niệm Alfred Nobel, bắt đầu trao từ 1969. Nobel Kinh tế là sự thừa nhận cho những kết quả nghiên cứu của các học giả về một lĩnh vực gần gũi cuộc đời: Làm sao để kinh tế phát triển và nhân dân được sống tốt hơn.
Theo quy định áp dụng từ năm 1974, Nobel không trao cho người đã mất trước khi giải được công bố. Trước đó chỉ có hai trường hợp được trao sau khi qua đời: Erik Axel Karlfeldt (Thụy Điển), Nobel Văn học năm 1931, và Dag Hammarskjöld, Tổng Thư ký Liên Hợp quốc được trao Nobel Hòa bình năm 1961. Năm 2011 còn có trường hợp đặc biệt Ralph Steinman (Canada): khi công bố Nobel Y học, hội đồng không biết ông đã mất trước đó 3 ngày nên quyết định vẫn được giữ nguyên.
Sau khi năm giải Nobel về Y học, Vật lý, Hóa học, Văn học và Hòa bình của năm nay đã được công bố, có 638 giải với 1.034 lượt người và tổ chức được trao. Có người nhận giải Nobel khiến dư luận phấn chấn, hoan nghênh, nhưng cũng có những trường hợp gây tranh cãi, nhiều khi gay gắt, nhất là Nobel Hòa bình. Cá biệt, có người không được trao thì nổi giận, nói xấu.
Với báo chí và đại chúng thì tùy công việc mà có sự quan tâm khác nhau: bác sĩ chú ý Nobel Y học; người nghiên cứu khoa học chờ Vật lý, Hóa học; người mê sách quan tâm Văn học; còn chính trị gia, nhà hoạt động xã hội thì thường nhìn về Nobel Hòa bình.
Dĩ nhiên do tính chất nổi tiếng của nó mà Nobel được hầu hết các giới quan tâm. Có những trường đại học, viện nghiên cứu và cả quốc gia xây dựng chiến lược dài hạn về khoa học, giáo dục, dịch thuật và quảng bá tri thức và nhăm nhe Nobel. Trường hợp Hàn Quốc tổ chức khá bài bản việc dịch tác phẩm văn học ra các ngôn ngữ lớn là một ví dụ đáng suy nghĩ. Trước khi Han Kang đoạt giải Nobel năm 2024 sách của bà đã được Chính phủ hỗ trợ dịch ra 28 ngôn ngữ!

Hai trong số các tác phẩm nổi bật của Anne Carson. Ảnh: MINH HÙNG
Văn chương và Nobel
Trong sáu lĩnh vực thường được gọi chung là Nobel, có lẽ giải Văn học lan tỏa nhanh nhất trong đời sống công chúng. Tính từ năm 1901 đến hết 2025, Nobel Văn học đã được trao 118 lần cho 122 lượt tác giả; năm nay Anne Carson (Canada) là người nhận giải, nâng con số lên 119 lần trao và 123 lượt tác giả.
Khi Gabriel García Márquez được trao giải năm 1982, những Trăm năm cô đơn, Ngài đại tá chờ thư và nhiều tác phẩm khác của nhà văn Colombia sau đó lần lượt được dịch, giới thiệu rộng rãi ở Việt Nam. Một thời, ai chưa đọc Trăm năm cô đơn thì trong giới mê sách cứ xem như chưa đọc sách! Thuật ngữ chuyên môn “nghệ thuật đồng hiện” trở nên quen thuộc rộng rãi với độc giả sau khi Márquez đoạt giải.
Câu chuyện về tác giả Han Kang cũng rất đáng chú ý. Han Kang nhận Nobel Văn học năm 2024. Nhưng trước khi Nobel gọi tên bà, bạn đọc Việt Nam đã có thể đọc Người ăn chay, Bản chất của người và một số tác phẩm khác. Năm 2025, Nobel Văn học thuộc về nhà văn Hungary László Krasznahorkai, một tác giả ít nhiều xa lạ với bạn đọc Việt Nam.
Không phải tác phẩm của người đoạt Nobel nào cũng được mọi người cho là hay. Và cũng có vô số tác phẩm không có Nobel nhưng tầm vóc ảnh hưởng vượt thời gian. Lev Tolstoy là một trường hợp đặc biệt. Kho dữ liệu đề cử của Nobel ghi nhận ông xuất hiện trong 19 lượt đề cử, gồm 16 lượt cho Văn học và 3 lượt cho Hòa bình, nhưng cuối cùng "con sư tử" của nền văn học Nga vẫn không được trao giải. Sau này lịch sử Nobel cũng nhìn nhận Tolstoy thuộc số những đại văn hào bị bỏ sót.
Danh tính những người được đề cử cùng tài liệu thẩm định Nobel được giữ kín 50 năm. Vì vậy những cái tên báo chí đưa ra trước mỗi mùa giải chỉ là dự đoán, không có một danh sách “ứng viên Nobel chính thức” nào được công khai trước khi trao giải.
Nobel Văn học 2026 thuộc về Anne Carson, nhà thơ, nhà văn, dịch giả và học giả cổ điển, 76 tuổi. Ai từng đọc Thần thoại Hy Lạp của Nguyễn Văn Khỏa, Phan Quang, Nhữ Thành… thì không thể nào quên cái thế giới của trời đất hỗn mang, những chuyện về Zeus, Promete, quả táo bất hòa hay những bi kịch của thần thoại Hy Lạp, đó cũng chính là cái thuở ban đầu của đức tin và văn minh con người. Cái mới của Anne Carson là làm cho những chuyện của thần thoại trở nên sống động và mang hàm ý mới của hôm nay, ngôn ngữ hiện đại, thông minh, có chút giễu cợt mà vô cùng sâu sắc.
Bao giờ ta có Nobel?
Chưa có “chỉ tiêu” nào được đặt ra, và chắc cũng không nên đặt ra. Trước đây tại một hội nghị của Hội Nhà văn từng có ý kiến nêu chuyện Nobel, có lẽ để bày tỏ một mong muốn hơn là một quyết tâm. Do giá trị và tầm cỡ của nó mà ít nhà văn nước ta đặt mục tiêu phải có giải, chí ít về mặt công khai.
Về kỹ thuật hỗ trợ, có người dịch giỏi, nhất là dịch ra tiếng Anh; có hệ thống quảng bá rộng rãi với bạn đọc thế giới là rất cần thiết. Đó là việc khó nhưng vẫn dễ hơn nhiều so với yêu cầu về tài năng và sáng tạo mà không ai làm thay nhà văn được.
Trước hết là thông điệp tư tưởng, là cái “bên trong” tác phẩm mà tác giả muốn gửi tới. Trong thông báo trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển thường chỉ dùng vài dòng để nói về giá trị một sự nghiệp văn chương. Nhưng khi đi vào tác phẩm, người đọc mới nhận ra chiều sâu tư tưởng nằm sau những dòng chữ ấy. Người phê bình có thể phân tích, người dịch có thể mở cánh cửa, nhà xuất bản có thể phát hành; còn thứ bước qua cánh cửa cuối cùng vẫn phải là tác phẩm. Xin nhắc lại vài tác phẩm được phổ biến rộng rãi ở nước ta, để thấy rõ hơn cái yêu cầu về tư tưởng tác phẩm.
Trong quyển Những cuốn sách thay đổi lịch sử của Michael Collins (Đông A, 2020), xếp cuốn Ngư ông và biển cả của E. Hemingway là 1/100 cuốn hay nhất lịch sử. Mỏng (165 trang), rất dễ đọc, xuất bản năm 1952; năm 1954, E. Hemingway được trao Nobel.
Hemingway viết gì? Một ông già đánh cá tên Santiago đã 84 ngày không bắt được cá. Trong 40 ngày đầu, cậu bé Manolin còn đi cùng; sau đó cha mẹ buộc cậu sang một chiếc thuyền khác. Ông lão quyết định một mình ra khơi, trong mỏi mòn chờ đợi, một chiều có một con cá kiếm khổng lồ cắn câu, nó kéo ông lão chạy quanh giữa biển khơi ba ngày đêm. Ông khéo léo khi cương, khi nhu hạ được con cá, ông bình tĩnh kéo nó vào bờ, nhưng bầy cá mập đánh hơi thấy máu nên lao đến tấn công. Ông chống trả quyết liệt nhưng khi vào đến bờ thì con cá kiếm của ông chỉ còn bộ xương.
Hơn 50 năm rồi từ khi đọc “Ngư ông…” lần đầu, đến nay tôi vẫn hình dung được gương mặt của ông lão đánh cá. Ông không tuyệt vọng, ông ngủ thiếp và trong giấc mơ ông thấy những con sư tử trên bãi biển châu Phi. Chuyện có vậy nhưng đằng sau đó là một thông điệp về sứ mệnh con người không bao giờ tuyệt vọng. Chiến thắng một mình nhiều khi là chiến thắng quan trọng nhất.
Một tác phẩm khác mà lứa đi học thời chúng tôi rất quan tâm là Thần thoại Sisyphus của Albert Camus. Cuốn sách xuất bản năm 1942; 15 năm sau, Camus nhận Nobel Văn học 1957.
Camus lấy từ thần thoại Hy Lạp câu chuyện Sisyphus, người bị phạt trọn đời phải đẩy một tảng đá lên đỉnh núi. Tới nơi, hòn đá lại lăn xuống. Và ông lại bắt đầu lặp lại cái công việc khổ hình ấy. Sisyphus nghĩ gì?
Buồn hay khổ? Tuyệt vọng hay không? Camus đặt vấn đề về sự phi lý của kiếp người, nhưng điều cuối cùng ông đi tìm không phải là đầu hàng. Ngay cả khi biết trước hòn đá sẽ lại lăn xuống, con người vẫn tiếp tục đẩy nó lên. Không nói rõ nhưng ai cũng biết, trong cái hình phạt trọn đời ấy, chí ít Sisyphus cũng có cái hạnh phúc là biết hòn đá ấy sẽ lăn xuống.
Năm 1964, Tokyo tổ chức thành công Thế vận hội. Bốn năm sau, năm 1968, Yasunari Kawabata trở thành nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận Nobel Văn học. Ngàn cánh hạc, Xứ tuyết, Đẹp và buồn… lần lượt được dịch sang tiếng Việt và được nhiều thế hệ độc giả yêu thích.
Kawabata viết những điều rất Nhật Bản nhưng lại gần gũi với tâm lý Á Đông. Điều sâu sắc hơn là ông viết về một đất nước đang hiện đại hóa thần kỳ mà vẫn giữ được những khoảng lặng bên trong. Trong Đẹp và buồn, một người đàn ông từ Tokyo bắt chuyến xe tốc hành cuối cùng trong năm để đến Kyoto. Mục đích chính là để nghe được tiếng chuông chùa lúc giao thừa. Làm sao phát triển mà không đánh mất mình? Có lẽ đó là một câu hỏi không chỉ của Nhật Bản.
Nếu cái khó nhất là thông điệp tư tưởng, triết lý hay thân phận con người thì còn một cái khó khác cũng phải kỳ công: nghề viết. Nguyễn Tuân từng nói trang giấy là “pháp trường trắng”; Khương Hữu Dụng có câu “đêm dài hơn giấy trắng”. Ý chung vẫn là công phu khổ luyện nghề nghiệp. Viết sao cho hay, cho lay động, kỹ thuật thể hiện phải sát tâm lý con người thời đại. Ở đây có một thước đo rất sòng phẳng: người đọc.
Arthur Schopenhauer từng nói đến nghệ thuật đọc sách và cả “nghệ thuật không đọc sách”. Đời người có hạn, không thể đọc tất cả. Sách dở là một sự phí phạm thời gian. Người xưa nói: Gặp một câu thơ hay vui được ba ngày. Ước chi trong đời mình đọc hết tác phẩm của các tác giả Nobel Văn học.
Thực tế cho thấy những cuốn sách đến được rộng rãi với người đọc còn nhờ một người rất quan trọng: người dịch. Cõi người ta của Saint-Exupéry được bạn đọc Việt Nam biết đến rộng rãi có phần đóng góp qua phong cách dịch tài hoa của Bùi Giáng. Những dịch giả của Chiến tranh và hòa bình, Tội ác và hình phạt… là những người sáng tác thật sự khi “dịch” những trang kinh điển ấy sang tiếng Việt. Một bản dịch hay nhiều khi không chỉ chuyển nghĩa; nó đưa cả một thế giới tinh thần từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
Vì vậy, cần có những thiết chế đủ mạnh giúp dịch những tác phẩm Việt Nam ra tiếng nước ngoài, trước hết là tiếng Anh; đồng thời tạo điều kiện để những học giả, nhà văn, nhà thơ giỏi đưa những tác phẩm lớn của thế giới đến với tiếng Việt.
Dịch thuật có thể mở cánh cửa, nhưng thứ bước qua cánh cửa ấy vẫn phải là tác phẩm. Việt Nam có một quá khứ lẫy lừng, một hiện thực đang diễn ra sôi động và không ít phức tạp trong quá trình phát triển, hiện đại hóa và giữ gìn cái “đậm đà” hồn cốt. Sự chuyển hóa tâm lý xã hội đang diễn ra trong chiều sâu và rất phong phú.
Chất liệu không thiếu. Một câu hỏi không ít lần được nghe: Vì sao ta chưa có tác phẩm lớn? Văn chương vốn phức tạp. Tài năng văn chương không dễ có. Một thái độ khuyến khích, trân trọng và nuôi dưỡng tài năng không lẽ lại khó hơn là cạo đầu bôi vôi?
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tan-man-nobel-3355612.html



