Tăng hiệu lực quản lý của UBND cấp xã trong bảo vệ môi trường
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường mới được ban hành, trong đó có nhiều nội dung quan trọng liên quan trực tiếp đến Luật Bảo vệ môi trường. Những quy định mới đã làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong công tác bảo vệ môi trường nông thôn, bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay...

Gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với cộng đồng dân cư.
Theo quy định mới, UBND cấp xã được xác định là lực lượng trực tiếp, gần dân nhất trong quản lý môi trường nông thôn. Việc luật hóa vai trò này cho thấy một định hướng nhất quán của Nhà nước trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý môi trường ngay từ cấp cơ sở. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để cấp xã chủ động, trách nhiệm hơn trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường tại địa bàn nông thôn.
“TUYẾN ĐẦU” TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
Khoản 2 Điều 58 Luật Bảo vệ môi trường (được sửa đổi, bổ sung) đã quy định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường nông thôn của các cấp chính quyền, trong đó UBND cấp xã giữ vai trò then chốt. Theo đó, cấp xã có trách nhiệm quản lý các loại chất thải sinh hoạt, nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát sinh trên địa bàn; tổ chức thống kê, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải.
Cùng với đó, UBND cấp xã tổ chức các hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường, cải tạo cảnh quan nông thôn, góp phần xây dựng môi trường sống sạch, đẹp, an toàn cho người dân. Việc đầu tư, nâng cấp hệ thống thoát nước và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường phát sinh từ sinh hoạt và sản xuất ở khu vực nông thôn.
Luật cũng giao cho UBND cấp xã trách nhiệm theo dõi, đánh giá diễn biến chất lượng môi trường trên địa bàn. Đối với các điểm, khu vực bị ô nhiễm, chính quyền cấp xã có trách nhiệm khoanh vùng, tổ chức xử lý, cải tạo, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường. Quy định này thể hiện rõ quan điểm quản lý môi trường phải được thực hiện ngay từ cơ sở, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ gây ô nhiễm.
Một nội dung quan trọng khác được nhấn mạnh là vai trò của UBND cấp xã trong việc xây dựng và thực hiện các mô hình tự quản về bảo vệ môi trường ở cộng đồng dân cư. Theo luật, cấp xã có trách nhiệm quy định và hướng dẫn hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường trên địa bàn nông thôn; đồng thời hướng dẫn cộng đồng dân cư đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước, gắn với xây dựng nông thôn mới và gia đình văn hóa.
Việc gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với cộng đồng dân cư giúp phát huy vai trò chủ thể của người dân, biến các quy định pháp luật thành những chuẩn mực ứng xử cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi người dân trực tiếp tham gia, giám sát và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường, hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao, tính bền vững cũng được bảo đảm.
LÀM RÕ TRÁCH NHIỆM CỦA UBND CẤP XÃ
Cùng với việc sửa đổi Điều 58, Luật Bảo vệ môi trường cũng sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 168, quy định rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã. Theo đó, UBND cấp xã có trách nhiệm xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về bảo vệ môi trường của địa phương; tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo thẩm quyền.
UBND cấp xã đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kiểm soát các nguồn ô nhiễm; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Việc tiếp nhận đăng ký môi trường, tổ chức quản lý các nguồn thải theo phân công, phân cấp cũng được xác định rõ là nhiệm vụ của cấp xã.
Đáng chú ý, luật quy định UBND cấp xã chịu trách nhiệm trước cấp trên về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường trên địa bàn, qua đó nâng cao tính trách nhiệm và kỷ cương trong quản lý.
Bên cạnh đó, UBND cấp xã thực hiện công tác theo dõi, giám sát, cảnh báo và quản lý chất lượng môi trường; cải tạo, phục hồi môi trường; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học theo thẩm quyền. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân cũng được luật hóa cụ thể, tạo hành lang pháp lý để chính quyền cơ sở chủ động xử lý các vấn đề môi trường phát sinh.
Luật sửa đổi cũng nhấn mạnh trách nhiệm của UBND cấp xã trong công tác truyền thông, phổ biến kiến thức và tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường; giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài, góp phần hình thành nếp sống thân thiện với môi trường ở khu vực nông thôn.
Song song với đó, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức thu thập thông tin, lập và báo cáo môi trường theo quy định của pháp luật; huy động và sử dụng các nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường. Việc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường cũng được quy định rõ, tạo điều kiện bảo đảm nguồn lực cho công tác này.
Việc quy định rõ ràng, đầy đủ trách nhiệm của UBND cấp xã trong Luật Bảo vệ môi trường thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy quản lý môi trường, lấy cơ sở làm trọng tâm, lấy cộng đồng làm nền tảng. Khi vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền cấp xã được xác định cụ thể, công tác bảo vệ môi trường nông thôn sẽ có điều kiện triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả hơn.











