'Tăng lực' cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp
Nghị quyết 43 được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất đã quyết định giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp có hiệu lực từ ngày 24/8/2026, áp dụng cho kỳ tính thuế 2026 - 2027 được đánh giá là “liều thuốc tăng lực” cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp.
Theo nghị quyết, doanh nghiệp, hộ kinh doanh được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có mức doanh thu hàng năm của năm 2026, 2027 không quá 10 tỷ đồng.
Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có mức doanh thu hàng năm của năm 2026, 2027 không quá 10 tỷ đồng, trừ các doanh nghiệp được hình thành từ việc chia, tách doanh nghiệp sau ngày Nghị quyết có hiệu lực mà tổng doanh thu của các doanh nghiệp được chia, tách năm 2026, 2027 trên 10 tỷ đồng…
Đánh giá về chính sách này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, chính sách có “độ phủ” tới hơn 99% cá nhân và hộ kinh doanh, hơn 81% doanh nghiệp. Việc giảm thuế được tính toán phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước. Trong ngắn hạn có thể giảm thu ngân sách nhà nước (giai đoạn 2026 - 2027 sẽ giảm thu ngân sách nhà nước hơn 6.700 tỷ đồng/năm) nhưng sẽ góp phần nuôi dưỡng nguồn thu trong dài hạn. Đồng thời hỗ trợ trực tiếp hộ kinh doanh, doanh nghiệp giữ lại nguồn lợi nhuận tái đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, gia tăng thu nhập khả dụng để có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy tiêu dùng, đóng góp trở lại cho ngân sách.
Có thể thấy, chính sách giảm thuế không đơn thuần là giải pháp tài chính mang tính thời điểm mà thể hiện tư duy điều hành theo phương châm “khoan thư sức dân, dưỡng sức doanh nghiệp", từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến đầu tư, việc làm, tiêu dùng và bảo đảm nguồn thu bền vững cho ngân sách trong dài hạn. Khi hộ kinh doanh, doanh nghiệp có thêm nguồn lực để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, khả năng tạo ra lợi nhuận và đóng góp ngân sách trong những năm sau sẽ lớn hơn. Quan trọng nữa là điều này cũng cho thấy chính sách được ban hành đã sát với thực tế hơn, góp phần hỗ trợ, tháo gỡ áp lực, khó khăn mà hộ kinh doanh và doanh nghiệp đang phải đối mặt, tạo thêm nguồn lực để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chuyên gia và đại biểu Quốc hội thì để chính sách phát huy hiệu quả sẽ phụ thuộc rất lớn vào cách thức triển khai. Chính sách hỗ trợ cần đi cùng đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí thực hiện, hỗ trợ chuyển đổi số và hướng dẫn minh bạch, thống nhất. Quan trọng nữa là hiệu quả chính sách không nên chỉ đo lường bằng số thuế ngân sách giảm mà cần nhìn nhận qua số doanh nghiệp được duy trì, số việc làm, mức đầu tư tăng thêm, số hộ kinh doanh chuyển đổi và khả năng mở rộng nguồn thu ngân sách trong trung và dài hạn. Đặc biệt, việc giảm thuế phải đi cùng với quản lý chặt chẽ, bảo đảm đúng đối tượng, đúng quy định, ngăn ngừa tình trạng lợi dụng chính sách. Ngoài ra, cần tiếp tục cải thiện môi trường sản xuất, kinh doanh để nguồn lực mà doanh nghiệp và hộ kinh doanh giữ lại thực sự được đưa vào sản xuất, đầu tư và mở rộng kinh doanh.
Thuế chỉ thực sự tạo nguồn thu bền vững khi nền kinh tế có doanh nghiệp “khỏe mạnh”, thể hiện qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động và thúc đẩy tiêu dùng. Nếu thuế thu được nhiều trong ngắn hạn nhưng doanh nghiệp suy yếu, thu hẹp sản xuất hoặc rời khỏi thị trường thì hậu quả tất yếu là nguồn thu sẽ ngày càng hạn hẹp.
Bởi vậy, như ý kiến của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thì việc giảm thuế cần được đặt trong tư duy lớn hơn, chuyển từ mục tiêu thu ngân sách trong ngắn hạn sang nuôi dưỡng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, tạo động lực tăng trưởng trong dài hạn.
