Tăng trưởng hai con số: Khơi thông động lực từ mô hình tăng trưởng mới

Kinh tế Việt Nam bước vào nửa cuối năm 2026 với nhiều tín hiệu phục hồi tích cực khi tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên, để hiện thực hóa kịch bản tăng trưởng 10%, nền kinh tế cần vượt qua những điểm nghẽn của mô hình tăng trưởng hiện nay, đồng thời tạo dựng các động lực mới.

Quang cảnh Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới”. Ảnh: D.THIỆN

Quang cảnh Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới”. Ảnh: D.THIỆN

Đà phục hồi rõ nét nhưng mô hình tăng trưởng vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Ngày 14/7, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tổ chức Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới”.

Tại Hội thảo, các chuyên gia cho biết, bức tranh kinh tế Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu khởi sắc trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với những bất định do cạnh tranh địa chính trị, biến động giá năng lượng và triển vọng tăng trưởng toàn cầu còn chậm. Mức tăng trưởng GDP 8,18% không chỉ là kết quả cao nhất của cùng kỳ kể từ năm 2016 trở lại đây, mà còn phản ánh những chuyển biến tích cực trong điều hành chính sách và quá trình phục hồi của nền kinh tế.

Theo ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò là động lực chính của tăng trưởng khi tăng 9,81%, đóng góp 47,2% vào mức tăng trưởng chung. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,8%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% - mức cao nhất kể từ năm 2019. Khu vực dịch vụ cũng tăng trưởng 8,09%, đóng góp gần tương đương khu vực công nghiệp vào GDP. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI tiếp tục là điểm sáng khi vốn đăng ký đạt 34,65 tỷ USD và vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD - mức cao nhất trong vòng 5 năm. “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 phục hồi mạnh nhưng yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng cao, mà là tăng trưởng cao về chất” - ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.

Cũng đánh giá cao những những kết quả tích cực của nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, tuy nhiên ông Nguyễn Anh Dương - Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) - cho rằng, phía sau bức tranh nhiều gam màu sáng vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn của mô hình tăng trưởng.

Cụ thể, thị trường vốn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm, tổng vốn huy động qua thị trường chứng khoán đạt khoảng 174.000 tỷ đồng, tương đương chưa đến 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong khi đó, các công cụ tài chính mới như tài chính xanh, tài chính dựa trên tài sản trí tuệ hay cơ chế thử nghiệm (sandbox) vẫn chưa có hành lang pháp lý hoàn thiện.

Một vấn đề khác là sự mất cân đối trong hoạt động thương mại. Mặc dù nhập siêu ở mức 16,6 tỷ USD chưa phải là quá lớn so với các giai đoạn trước, song điều đáng chú ý là khu vực FDI chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước ghi nhận mức thâm hụt thương mại rất lớn. Theo ông Nguyễn Anh Dương, điều này phản ánh sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa vẫn còn lỏng lẻo, khiến hiệu ứng lan tỏa của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế chưa như kỳ vọng.

Bên cạnh đó, khu vực dịch vụ tuy phục hồi nhưng chất lượng tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Tỷ trọng doanh nghiệp mới thành lập vẫn tập trung nhiều ở các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ thấp, trong khi các ngành có giá trị gia tăng cao như logistics, tài chính, khoa học - công nghệ phát triển còn chậm. Đây là những hạn chế cần được khắc phục nếu Việt Nam muốn chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và đổi mới sáng tạo.

Ở góc nhìn thị trường tài chính, TS. Phạm Vũ Thăng Long - Giám đốc cấp cao Khối Nghiên cứu, Công ty Chứng khoán HSC, cho rằng hệ thống tài chính Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Trong tổng lượng vốn gần 1,9 triệu tỷ đồng được cung ứng cho nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng chiếm tới khoảng ba phần tư. Trong khi đó, quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán còn khá khiêm tốn. Cùng với mặt bằng lãi suất phát hành trái phiếu Chính phủ vẫn ở mức cao, điều này cho thấy áp lực huy động vốn trung và dài hạn vẫn là thách thức đối với tăng trưởng.

Tạo động lực mới để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số

Từ những diễn biến của nền kinh tế trong nửa đầu năm, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đã xây dựng ba kịch bản tăng trưởng cho năm 2026. Theo đó, kịch bản rủi ro dự báo GDP tăng 8,2%; kịch bản cơ sở đạt 9,2%; trong khi kịch bản phấn đấu hướng tới mức tăng trưởng 10%. Để đạt mục tiêu này, nền kinh tế cần nâng tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội lên khoảng 38,5% GDP, duy trì tốc độ tăng xuất khẩu khoảng 22,5% và nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên khoảng 47% - cao hơn đáng kể so với hiện nay.

Các kịch bản tăng trưởng của năm 2026. Nguồn: Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

Các kịch bản tăng trưởng của năm 2026. Nguồn: Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược.

Theo ông Nguyễn Anh Dương, yếu tố quyết định để đạt được năng suất này chính là việc ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) vào nền kinh tế thực. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế vẫn còn khá lớn khi số doanh nghiệp thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế từ AI còn rất ít, trong khi chi phí triển khai công nghệ vẫn là rào cản đáng kể. Ông cũng dẫn ý kiến của một số doanh nghiệp nước ngoài cho rằng nếu năng suất lao động của Việt Nam không cải thiện ở mức hai con số trong giai đoạn tới, nguy cơ lao động bị thay thế bởi các hệ thống tự động hóa sẽ ngày càng rõ nét.

Ở góc độ nghiên cứu dài hạn, GS,TS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, đánh giá AI sẽ là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế Việt Nam. Theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia, ngay cả trong kịch bản thận trọng, AI cũng có thể đóng góp hơn 1 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Nếu Việt Nam triển khai chiến lược AI toàn diện, mức đóng góp này có thể tăng lên hơn 2 điểm phần trăm vào năm 2030 và khoảng 4 điểm phần trăm vào năm 2045, tạo điều kiện để duy trì tốc độ tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn dài hạn.

Tuy nhiên, theo GS,TS. Trần Thọ Đạt, lợi thế này chỉ có thể đạt được nếu Việt Nam hành động sớm. Mỗi năm chậm triển khai AI có thể khiến nền kinh tế mất khoảng 0,3 - 0,5 điểm phần trăm tăng trưởng tiềm năng trong dài hạn. Vì vậy, giai đoạn 2026 - 2028 cần được xem là “thời điểm vàng” để xây dựng chiến lược quốc gia về AI, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho bốn lĩnh vực có khả năng tạo tác động lan tỏa lớn gồm công nghệ thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo.

Bên cạnh đổi mới công nghệ, phát triển thị trường vốn cũng được các chuyên gia xác định là điều kiện quan trọng để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nguồn lực cho đầu tư. TS. Phạm Vũ Thăng Long cho rằng việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp sẽ mở ra cơ hội thu hút thêm dòng vốn quốc tế, góp phần đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Trong khi đó, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh - đề xuất phát triển các sản phẩm tài chính mới, trong đó có mô hình mã hóa tài sản, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và các dự án hạ tầng.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - cho rằng, việc hoàn thiện thể chế vẫn là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực đầu tư. Dù nhiều quy định pháp luật về đầu tư và quy hoạch đã được sửa đổi theo hướng thuận lợi hơn, quá trình triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án và khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni (VinUniversity), cùng với chuyển đổi số và ứng dụng AI, Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để nâng cao năng suất, nhất là trong khu vực dịch vụ và các ngành có khả năng số hóa cao. Nếu tận dụng tốt các động lực này, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới hoàn toàn có cơ sở để kỳ vọng.

Có thể thấy, những kết quả đạt được trong nửa đầu năm 2026 đang tạo nền tảng thuận lợi cho mục tiêu tăng trưởng cao của cả giai đoạn tới. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tăng trưởng hai con số sẽ không thể đạt được nếu tiếp tục dựa vào mô hình cũ với động lực chủ yếu từ vốn và lao động giá rẻ. Việc khơi thông thị trường vốn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và tăng tốc ứng dụng AI sẽ là những điều kiện then chốt để Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng mới, bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao đi cùng chất lượng và tính bền vững./.

DIỆU THIỆN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/tang-truong-hai-con-so-khoi-thong-dong-luc-tu-mo-hinh-tang-truong-moi