Tăng trưởng hai con số phải tạo ra giá trị cho người dân
PGS. TS. BÙI HỮU TOÀN, Giám đốc Học viện Ngân hàng cho rằng, bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi Việt Nam không chỉ huy động thêm nguồn lực mà phải nâng cao năng suất, chất lượng phân bổ vốn và năng lực đổi mới sáng tạo. Thành quả tăng trưởng cuối cùng phải được chuyển hóa thành thu nhập cao hơn, chất lượng sống tốt hơn và nhiều cơ hội phát triển hơn cho người dân.
Tăng trưởng cao phải dựa trên năng suất và hiệu quả nguồn lực
- Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo ông, đâu là cơ sở và những điều kiện nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu này?
- Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu lớn, nhưng về thực tiễn, Việt Nam đang có những nền tảng thuận lợi. Năm 2025, kinh tế tăng 8,02% trong khi lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%; 6 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng ước đạt 8,18%. Các chủ trương lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế cũng đang mở thêm dư địa cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, nâng tốc độ tăng trưởng từ trên 8% lên bình quân trên 10% đòi hỏi nỗ lực đáng kể. Trước hết, cần giữ vững ổn định vĩ mô. Nếu tăng trưởng dựa quá nhiều vào mở rộng tín dụng, đầu tư hoặc tổng cầu trong khi năng lực cung chưa cải thiện tương ứng, áp lực lên lạm phát, tỷ giá và các cân đối lớn sẽ gia tăng. Đồng thời, cần nâng hiệu quả sử dụng vốn, năng suất, chất lượng thể chế và năng lực thực thi.

PGS.TS. Bùi Hữu Toàn, Giám đốc Học viện Ngân hàng. Ảnh: Học viện Ngân hàng
Việt Nam có độ mở kinh tế lớn nên những biến động bên ngoài có thể nhanh chóng tác động đến trong nước. Vì vậy, tăng trưởng hai con số là mục tiêu có cơ sở để phấn đấu, nhưng phải được đặt trên nền tảng ổn định vĩ mô, năng suất cao hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và khả năng chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài.
- Để duy trì tăng trưởng cao trong cả giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nào, thưa ông?
- Theo tôi, giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành nền tảng thay đổi phương thức sản xuất và quản trị; doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, là chủ thể trực tiếp chuyển những tiến bộ đó thành giá trị gia tăng.
Khoảng cách giữa mục tiêu và hiện trạng vẫn còn khá lớn. Giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng trên 55%, năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm và kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP. Trong khi đó, năng suất lao động những năm gần đây tăng khoảng 5,2 - 5,3%/năm, kinh tế số đóng góp khoảng 14% GDP và năng suất các nhân tố tổng hợp năm 2025 đóng góp khoảng 47%.
Vì vậy, đổi mới sáng tạo phải được đo bằng năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đề tài hay sáng chế. Chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tái thiết kế quy trình, đổi mới quản trị và nâng kỹ năng người lao động. Khu vực tư nhân cần có điều kiện để mở rộng quy mô, đầu tư nghiên cứu - phát triển và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Cùng với đó, vốn, đất đai và lao động cần được phân bổ tới những khu vực, doanh nghiệp có năng suất cao hơn. Đây là điều kiện để các động lực mới thực sự chuyển hóa thành tăng trưởng.
- Trong nhiều năm, tín dụng và đầu tư vẫn là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Theo ông, ngân hàng cần đổi mới cách cung ứng vốn và ưu tiên tín dụng vào những lĩnh vực nào để thúc đẩy tăng trưởng bền vững?
- Tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, nhưng khi mục tiêu tăng trưởng được nâng lên, yêu cầu về chất lượng phân bổ vốn cũng phải cao hơn.
Năm 2025, tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19% trong khi GDP tăng 8,02%, tương ứng mức tăng tín dụng cao gấp khoảng 2,37 lần mức tăng GDP; giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ này bình quân khoảng 1,64 lần. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ toàn nền kinh tế xấp xỉ 20 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 18,1% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy cần chú trọng hơn đến hiệu quả phân bổ tín dụng. Thay đổi cần thiết không nằm ở chỗ cung ứng thêm bao nhiêu vốn, mà ở cách thức cung ứng.
Thứ nhất, cần phát triển cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Đến cuối tháng 6/2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP, trong khi trái phiếu niêm yết mới khoảng 22,1% GDP. Một thị trường vốn minh bạch, ổn định hơn sẽ giúp doanh nghiệp có thêm kênh vốn dài hạn và giảm áp lực kỳ hạn cho ngân hàng.
Thứ hai, nâng vai trò của các chuẩn mực an toàn và quản trị rủi ro, gắn tăng trưởng tín dụng với năng lực vốn, thanh khoản và chất lượng tài sản của từng tổ chức tín dụng.
Thứ ba, ưu tiên vốn cho các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn như công nghiệp chế biến, chế tạo; hạ tầng chiến lược; nông nghiệp giá trị cao; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng; chuyển đổi xanh và nhà ở xã hội. Đồng thời cần giám sát chặt các dòng vốn có tính đầu cơ; dư nợ cho vay ký quỹ cuối quý II/2026 khoảng 445.000 tỷ đồng là một tín hiệu cần theo dõi.
Đồng thời, trọng tâm vẫn là nâng hiệu quả sử dụng tín dụng và giá trị tạo ra từ mỗi đồng vốn.
Nâng năng suất, chuẩn bị nhân lực cho giai đoạn phát triển mới
- Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng lấy năng suất và công nghệ làm động lực chính đang là yêu cầu cấp thiết. Theo ông, đâu là những "điểm nghẽn" lớn nhất cần tháo gỡ để bứt phá về năng suất lao động.
- Theo tôi, có bốn điểm nghẽn cần xử lý để nâng năng suất và chất lượng tăng trưởng: chất lượng nguồn nhân lực; quy mô và năng lực quản trị của doanh nghiệp trong nước; hiệu quả phân bổ nguồn lực; và độ trễ giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động. Những điểm nghẽn này càng bộc lộ rõ khi công nghệ thay đổi nhanh và yêu cầu về kỹ năng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính ngày càng cao.
- Từ góc độ một cơ sở đào tạo, Học viện Ngân hàng đã chuẩn bị như thế nào để cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới, thưa ông?
- Học viện Ngân hàng xác định sẽ tập trung đổi mới chương trình đào tạo theo yêu cầu mới của ngành. Hoạt động ngân hàng đang thay đổi nhanh khi nhiều công việc lặp lại dần được tự động hóa. Vì vậy, người học không chỉ cần vững nghiệp vụ mà còn phải có năng lực phân tích dữ liệu, quản trị rủi ro, tuân thủ và hiểu biết về tài chính bền vững. Học viện đang từng bước đưa những nội dung này vào chương trình chính khóa.
Bên cạnh đó, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực hiện có cũng được chú trọng, bởi công nghệ và yêu cầu công việc thay đổi nhanh. Học viện tăng cường phối hợp với cơ quan quản lý, doanh nghiệp để nội dung đào tạo sát hơn với nhu cầu thị trường lao động và từng vị trí việc làm.
- Suy cho cùng, mục tiêu của tăng trưởng vẫn là nâng cao đời sống người dân. Theo ông, cần làm gì để thành quả tăng trưởng được chuyển hóa rõ nét hơn thành thu nhập, chất lượng sống và cơ hội phát triển cho mỗi người dân?
- Tăng trưởng là điều kiện cần, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn phải nâng chất lượng sống và mở rộng cơ hội phát triển cho người dân. Nếu thu nhập thực tế, việc làm, dịch vụ công và mức độ bảo đảm an sinh không cải thiện tương ứng thì thành quả tăng trưởng chưa được chuyển hóa đầy đủ.
Kênh đầu tiên là việc làm và tiền lương thực tế. Tăng trưởng có ý nghĩa trực tiếp khi tạo ra việc làm có năng suất cao và thu nhập tốt hơn. Vì vậy, mục tiêu tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 cũng là nền tảng để cải thiện thu nhập bền vững.
Kênh thứ hai là chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Mục tiêu đưa GDP bình quân đầu người lên khoảng 8.500USD vào năm 2030, tương đương khoảng 1,7 lần năm 2025, cần đi cùng việc nâng cao khả năng tiếp cận và giảm gánh nặng chi phí về giáo dục, y tế, nhà ở và hạ tầng.
Kênh thứ ba là an sinh xã hội và khả năng chống chịu trước những biến động về việc làm, sức khỏe, thiên tai. Cùng với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1 - 1,5%/năm, cần mở rộng độ bao phủ của hệ thống an sinh, giữ ổn định giá cả và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
Đối với ngành ngân hàng, đóng góp thiết thực là thúc đẩy tài chính toàn diện, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức, hướng tín dụng phù hợp tới những nhu cầu thiết yếu, trong đó có nhà ở xã hội, đồng thời tăng cường bảo vệ người tiêu dùng tài chính trong môi trường số.
Vì vậy, thành quả của mục tiêu tăng trưởng cao không nên chỉ được nhìn qua tốc độ tăng GDP, mà còn phải thể hiện ở thu nhập thực tế, việc làm, sức khỏe, chất lượng môi trường và cơ hội phát triển của người dân. Đây cũng là những nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
- Xin cảm ơn ông!
