Tăng trưởng kinh tế cao phải gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thảo luận tại hội trường sáng 31/10, các ĐBQH quan tâm về tăng cung ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân. Tuy nhiên, nhiều đại biểu nhấn mạnh, tăng trưởng kinh tế cao phải gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và sức chống chịu của nền kinh tế, nâng cao chất lượng tín dụng và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.
Tăng tiếp cận tín dụng nhưng phải bảo đảm an toàn hệ thống
Nhìn từ góc độ cộng đồng doanh nghiệp, ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) cho biết, hiện nay, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép rất lớn về vốn, chi phí và thị trường có sức mua yếu, không có nguồn tiền để triển khai các dự án sản xuất.
Do vậy, đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước khẩn trương chỉ đạo các ngân hàng thương mại kéo dài, mở rộng cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027 đối với những doanh nghiệp gặp khó khăn do thị trường nhưng sử dụng vốn đúng mục đích, có phương án phục hồi khả thi.

Toàn cảnh phiên thảo luận về kinh tế - xã hội sáng 31/10. Ảnh: Khánh Duy
Đại biểu cũng đề nghị mở rộng đối tượng thụ hưởng các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người thuê nhà, mua nhà ở xã hội; giảm phí bảo lãnh dự thầu, phí thực hiện hợp đồng và phí trả nợ trước hạn. Khi nghĩa vụ bảo lãnh giảm theo xác nhận của các bên, cần giải tỏa ký quỹ tương ứng. Đại biểu đề nghị hoàn thành hướng dẫn nội dung này trong quý I/2027.
Bên cạnh đó, giá vật liệu, nhân công, nhiên liệu tăng đột biến, trong khi nhiều công trình trọng điểm được triển khai cùng lúc, khiến các nhà thầu càng làm càng lỗ. Trước thực tế này, đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây lắp đối với các dự án đầu tư công ký trước ngày 1/7/2026 theo hướng chia sẻ rủi ro giữa ngân sách và nhà thầu, giúp các công trình tiếp tục được triển khai, hoàn thiện.

ĐBQH Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ) phát biểu. Ảnh Hồ Long
Đề cập hiện tượng trong các năm 2023, 2024 và 2025, tín dụng tăng nhanh hơn GDP gấp hơn 2 lần, năm 2026 khoảng 1,5-1,7 lần, ĐBQH Phạm Ngọc Lâm (Gia Lai) cho rằng, không thể chỉ dựa vào những số liệu này để kết luận hiệu quả tín dụng tăng hay giảm, bởi hai chỉ tiêu không cùng thước đo. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế năm nay còn được đóng góp bởi tín dụng và đầu tư từ những năm trước do có độ trễ. Điều cần làm rõ là mức độ phụ thuộc vào việc mở rộng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng.
Từ tỷ lệ tín dụng so với GDP tăng qua các năm (năm 2022 là 124%, năm 2025 là 145%, năm 2026 khoảng 155%), đại biểu cho rằng, dù không phải chỉ số điều hành, đây vẫn là con số cần được lưu tâm khi cả năm 2026 và 2027 đều đặt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%; tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2027 có thể lên khoảng 160-165%.
Dẫn lưu ý của nhiều tổ chức quốc tế về rủi ro từ việc gia tăng tỷ lệ tín dụng/GDP, đại biểu Phạm Ngọc Lâm nhấn mạnh, vấn đề không nằm ở chỗ tỷ lệ cao đồng nghĩa với nguy cơ, mà ở sự tích tụ rủi ro trong những năm qua khi tăng trưởng tín dụng vượt khả năng hấp thụ vốn hiệu quả, nguồn vốn dài hạn chưa đáp ứng nhu cầu và chất lượng tài sản ngân hàng có thể chịu sức ép.
“Nếu vốn mở rộng liên tục mà năng suất, dòng tiền và khả năng trả nợ không tăng tương xứng, rủi ro có thể lan từ bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp sang hệ thống ngân hàng và nền kinh tế, nguy cơ tạo ra bong bóng tài sản và nợ xấu tiềm ẩn”, đại biểu lưu ý.
Từ phân tích trên, đại biểu Phạm Ngọc Lâm đề nghị làm rõ kịch bản vốn cho tăng trưởng năm 2027, trong đó thể hiện đồng thời GDP thực, GDP danh nghĩa, vốn đầu tư toàn xã hội, mức tăng tín dụng dự kiến và nguồn vốn thực chất huy động từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu cùng các kênh khác. Trên cơ sở đó, cần tính toán tỷ lệ tín dụng/GDP tương ứng và giải trình khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% mà không phải tiếp tục gia tăng mạnh mức độ phụ thuộc vào ngân hàng.

ĐBQH Phạm Ngọc Lâm (Gia Lai) phát biểu. Ảnh Hồ Long
Đại biểu cũng đề nghị sử dụng chỉ số khoảng cách tín dụng so với xu hướng dài hạn làm công cụ tham chiếu trong điều hành; chủ động thực hiện các biện pháp phòng vệ, tăng cường giám sát những chỉ báo rủi ro được Ủy ban Basel III khuyến nghị.
Cùng với đó, cần phân tích, đánh giá sức chịu đựng của hệ thống, xây dựng kịch bản ứng phó với các cú sốc về lãi suất, tỷ giá và thị trường bất động sản, đồng thời tăng cường dự trữ ngoại hối. Các ngân hàng thương mại cũng cần chủ động nâng cao tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II nâng cao và Basel III một cách thực chất.
Một yêu cầu khác là minh bạch hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, xác định chỉ tiêu và lộ trình phát triển thị trường vốn trung, dài hạn gắn với giảm dần mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đặc biệt, cần lượng hóa nguồn vốn trung, dài hạn thực tế huy động được để phục vụ sản xuất, kinh doanh và phát triển hạ tầng.
Đại biểu Phạm Ngọc Lâm nhấn mạnh, tăng trưởng kinh tế cao phải gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và sức chống chịu của nền kinh tế, nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.
Tiền gửi ngắn hạn chiếm 80% nhưng có tính ổn định
Tại phiên thảo luận, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Phạm Đức Ấn đã báo cáo, làm rõ hơn một số vấn đề ĐBQH quan tâm về điều hành chính sách tiền tệ, kiểm soát tín dụng, lãi suất và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn phát biểu làm rõ các nội dung ĐBQH đặt ra tại phiên thảo luận. Ảnh Hồ Long
Trong đó, Thống đốc cho biết, một đặc điểm của hệ thống ngân hàng Việt Nam là tiền gửi ngắn hạn hiện chiếm tới 80% tổng tiền gửi. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa nguồn vốn thiếu ổn định, bởi trên thực tế, người dân thường gửi tiền kỳ hạn ngắn nhưng duy trì trong thời gian dài thông qua việc liên tục quay vòng.
Mặt khác, theo Thống đốc, các ngân hàng thương mại huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp hơn nên sẽ quay ngược trở lại hỗ trợ giảm lãi suất cho vay. “Việc người dân tiếp tục gửi tiền vào ngân hàng cũng phản ánh niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Khi thị trường vốn phát triển hấp dẫn hơn, đồng thời bảo đảm an toàn cho nhà đầu tư, cơ cấu dòng tiền giữa các kênh đầu tư sẽ có sự thay đổi và cân bằng hơn”, Thống đốc Phạm Đức Ấn khẳng định.

ĐBQH Lê Minh Nam (TP. Cần Thơ) phát biểu. Ảnh Hồ Long
Về chính sách tiền tệ, tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, kiểm soát tỷ giá và góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Về tái cấp vốn, ứng dụng các công cụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước đang hỗ trợ rất tốt cho các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan này đang triển khai thực hiện gói để tái cấp vốn cho vay nhà ở xã hội.
Thống đốc cũng cho biết, tăng trưởng tín dụng hiện đạt khoảng 12,27%, qua đó góp phần kiểm soát mặt bằng lãi suất. Lãi suất huy động tăng 1,42%, trong khi lãi suất cho vay chỉ tăng 0,99%, cho thấy khoảng cách giữa hai mức lãi suất đang dần thu hẹp.
Đối với tín dụng bất động sản, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường kiểm soát, bảo đảm mức tăng trưởng hiện khoảng 9,84%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.
Về vấn đề khả năng tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa để tìm giải pháp giảm lãi suất, tăng khả năng tiếp cận vốn. Trong đó, chú trọng phương thức cho vay dựa trên năng lực thực tế, dòng tiền và phương án kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo đánh giá tại Tờ trình số 734 trình Quốc hội về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận tín dụng của nhóm doanh nghiệp này còn hạn chế do quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch.
Thống đốc nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao tính minh bạch trong hoạt động, không thể tồn tại tình trạng sử dụng hai hệ thống báo cáo tài chính, một để kê khai thuế và một để cung cấp cho ngân hàng khi vay vốn.
