Tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất và thuận lợi cho hòa giải ở cơ sở
Sáng 5/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội làm việc tại Hội trường, nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng
Kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở do ngân sách nhà nước bảo đảm
Tờ trình dự án Luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày. Theo đó, việc ban hành dự án Luật dựa trên các cơ sở chính trị quan trọng, đó là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm giai đoạn 2021-2030 tại Đại hội XIII của Đảng, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội XIV của Đảng, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát huy hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, các hình thức tự quản của cộng đồng, các phương thức hòa giải cấp cơ sở. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc…

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Ảnh: Phạm Thắng
Bên cạnh đó, công tác hòa giải ở cơ sở còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, như một số nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở hiện hành còn thiếu đồng bộ, chưa bao quát hết các yêu cầu thực tiễn và bối cảnh mới, tạo ra những khoảng trống pháp lý lớn trong thực thi; thiếu quy định về cơ chế "chỉ định hòa giải viên", quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên ở cơ sở chưa được quy định đầy đủ…
Dự thảo Luật được kết cấu gồm 5 chương, 35 điều (tăng 2 điều so với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013), với các nội dung cơ bản, như: sửa đổi, bổ sung một số nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở để bảo đảm phù hợp, thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành và đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới.

Đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng
Sửa đổi theo hướng quy định kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở do ngân sách nhà nước bảo đảm thay vì hỗ trợ như trước đây nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; bổ sung một số quyền của hòa giải viên để tạo điều kiện cho hòa giải viên có thể hoàn thành tốt nhất hoạt động hòa giải…
Phát huy vai trò của toàn xã hội trong công tác hòa giải, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước
Báo cáo thẩm tra dự án Luật do Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày. Theo đó, Ủy ban tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở. Dự thảo Luật thể chế hóa cơ bản đầy đủ, kịp thời các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước; quy định những nội dung có tính nguyên tắc, đúng thẩm quyền của Quốc hội nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất và thuận lợi cho công tác hòa giải ở cơ sở; gắn công tác hòa giải ở cơ sở với xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật để phòng ngừa tranh chấp, tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Ảnh: Phạm Thắng
Ủy ban tán thành quy định về việc Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; giữ quy định của Luật hiện hành về Ngân sách trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.
Đồng thời, tán thành với quy định về huy động nguồn lực xã hội (khoản 2 Điều 6). Theo đó khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí hợp pháp hỗ trợ công tác hòa giải ở cơ sở nhằm đa dạng hóa nguồn lực, phát huy vai trò của toàn xã hội trong công tác hòa giải, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Hồ Long
Mặt khác, đề nghị Chính phủ quy định rõ trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật cơ chế quản lý, sử dụng nguồn kinh phí huy động từ xã hội để thực hiện minh bạch, hiệu quả.
Ủy ban cũng tán thành việc bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên là cần thiết, nhất là trong trường hợp cần bảo đảm thành phần giới và dân tộc thiểu số; thống nhất với quy định tại dự thảo Luật về công nhận hòa giải viên, trong đó có quy định thời hạn công nhận hòa giải viên là 3 năm…

Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Hồ Long











