Tạo cơ sở pháp lý trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt

Xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất để chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (VKHDHL) là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL không chỉ góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh (QPAN) mà còn thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện các cam kết quốc tế. Đó là ý kiến của Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng, Cục trưởng Cục Pháp chế Bộ Quốc phòng, Tổ phó Thường trực Tổ soạn thảo dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, việc xây dựng dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL có ý nghĩa như thế nào?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Hiện nay, nguy cơ phổ biến VKHDHL không chỉ gắn với chiến tranh, xung đột hoặc khủng bố mà còn có thể phát sinh thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tài chính, ngân hàng, vận chuyển, quá cảnh và trung chuyển hàng hóa. Đáng chú ý, nhiều loại vật liệu, thiết bị, công nghệ mang tính lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, vừa có thể bị lợi dụng cho mục đích phổ biến VKHDHL nếu không được nhận diện và kiểm soát phù hợp.

Dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; kết hợp chặt chẽ giữa QPAN với phát triển kinh tế-xã hội, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đồng thời, việc ban hành luật này thể hiện rõ trách nhiệm của Việt Nam trong thực hiện các điều ước quốc tế, nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cam kết quốc tế có liên quan; qua đó tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

 Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng. Ảnh: DUNG PHAN

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng. Ảnh: DUNG PHAN

PV:Quan điểm xây dựng dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL là gì, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Quan điểm xuyên suốt trong xây dựng dự án Luật là bảo đảm chặt chẽ về pháp lý, khả thi trong thực tiễn, đồng thời không làm cản trở các hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp. Trước hết, dự án Luật phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về QPAN, đối ngoại và hội nhập quốc tế; đặt nhiệm vụ phòng, chống phổ biến VKHDHL trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Thứ hai, dự án Luật bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, không chồng chéo hoặc trùng lặp với các luật chuyên ngành.

Thứ ba, dự án Luật được xây dựng theo hướng quản lý dựa trên rủi ro. Theo đó, không kiểm soát đại trà, không phát sinh thêm các thủ tục không cần thiết, mà tập trung vào những chủ thể, hàng hóa, công nghệ, giao dịch, tuyến vận chuyển, người sử dụng cuối cùng hoặc mục đích sử dụng cuối cùng có dấu hiệu, nguy cơ cụ thể.

Thứ tư, các biện pháp kiểm soát phải có căn cứ rõ ràng, đúng thẩm quyền, phù hợp với tính chất và mức độ rủi ro; đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

PV:Dự thảo Luật gồm những nội dung cơ bản nào, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Dự thảo Luật được thiết kế theo hướng chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, nền tảng và khung pháp lý chung. Những nội dung có tính kỹ thuật, chuyên sâu, thường xuyên biến động hoặc cần linh hoạt trong tổ chức thực hiện được giao Chính phủ quy định chi tiết để phù hợp với thực tiễn quản lý; đồng thời không quy định lại những nội dung đã được điều chỉnh đầy đủ trong pháp luật chuyên ngành.

Bố cục dự thảo Luật gồm 4 chương, 40 điều. Về nội dung, dự thảo Luật có thể khái quát thành 3 nhóm vấn đề lớn: Xác lập các nguyên tắc, chính sách chung về phòng, chống phổ biến VKHDHL; thiết lập cơ chế quản lý, kiểm soát theo hướng dựa trên đánh giá rủi ro; quy định về tổ chức thực thi, cơ chế phối hợp liên ngành và bảo đảm nguồn lực thực hiện.

PV: Đồng chí có thể nói rõ hơn về các nguyên tắc phòng, chống phổ biến VKHDHL?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Nguyên tắc phòng, chống phổ biến VKHDHL là nội dung rất quan trọng, có tính định hướng xuyên suốt đối với toàn bộ dự thảo Luật. Trước hết, hoạt động phòng, chống phổ biến VKHDHL phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.

Thứ hai, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, lấy phòng ngừa là chính; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nguy cơ ngay từ giai đoạn đầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa then chốt đối với nhiệm vụ QPAN.

Thứ ba, việc quản lý, kiểm soát phải dựa trên đánh giá rủi ro. Các biện pháp áp dụng phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy cơ của từng trường hợp cụ thể; không kiểm soát tràn lan, không gây khó khăn cho các hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.

Thứ tư, những biện pháp có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân phải có căn cứ rõ ràng, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, có thời hạn và tương xứng với mức độ rủi ro.

Cuối cùng, công tác phòng, chống phổ biến VKHDHL gắn chặt với hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống cảnh báo sớm; đồng thời bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

PV: Thưa đồng chí, trong quá trình xây dựng dự án Luật, Tổ soạn thảo gặp những khó khăn gì?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Đây là dự án Luật mới, khó, có tính chuyên ngành sâu, liên quan đến rất nhiều lĩnh vực, vì vậy, quá trình xây dựng đặt ra không ít khó khăn. Khó khăn lớn nhất là xác định phạm vi điều chỉnh phù hợp. Công tác phòng, chống phổ biến VKHDHL liên quan đến QPAN, đối ngoại, hải quan, ngoại thương, hóa chất, năng lượng nguyên tử, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, tài chính, ngân hàng, phòng, chống rửa tiền và phòng, chống khủng bố. Nếu quy định quá rộng sẽ dễ chồng chéo với pháp luật chuyên ngành; ngược lại, nếu quy định quá hẹp sẽ không đủ công cụ pháp lý để xử lý những nguy cơ mới phát sinh.

Một thách thức lớn khác là việc kiểm soát các loại hàng hóa, thiết bị, công nghệ có tính lưỡng dụng. Đây là những đối tượng vừa phục vụ phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, y tế, công nghiệp và giáo dục, nhưng trong một số trường hợp cũng có thể bị lợi dụng cho mục đích phổ biến VKHDHL. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát đúng trọng tâm, đúng rủi ro, tránh khuynh hướng buông lỏng quản lý hoặc kiểm soát quá mức.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu QPAN với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp. Một số biện pháp như tạm dừng hoặc hạn chế giao dịch, phong tỏa tài sản, xác minh người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng phải được quy định chặt chẽ về căn cứ, thẩm quyền, trình tự và thời hạn áp dụng. Đây cũng là lĩnh vực có yêu cầu hội nhập quốc tế rất cao. Việt Nam phải nội luật hóa các nghĩa vụ quốc tế, các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện, năng lực quản lý và thực tiễn pháp luật trong nước.

Chính vì vậy, Tổ soạn thảo đã nghiên cứu kỹ lưỡng, rà soát toàn diện hệ thống pháp luật hiện hành, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, chuyên gia, doanh nghiệp nhằm bảo đảm dự thảo Luật chặt chẽ, khả thi và phù hợp với thực tiễn.

PV: Đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò phối hợp của các bộ, ngành, cơ quan chức năng trong xây dựng dự án Luật?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Đây là đạo luật có tính liên ngành cao, không chỉ liên quan đến lĩnh vực QPAN mà còn gắn với nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác. Trong quá trình xây dựng dự án Luật, Bộ Quốc phòng với vai trò cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan liên quan để rà soát hệ thống pháp luật, đánh giá thực tiễn thi hành, xác định khoảng trống pháp lý và hoàn thiện từng nhóm chính sách, từng điều khoản cụ thể. Các bộ, ngành, cơ quan liên quan đã tham gia với tinh thần trách nhiệm cao, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, không chỉ về kỹ thuật lập pháp mà còn góp phần làm rõ cơ chế phối hợp, trách nhiệm quản lý và các biện pháp kiểm soát đặc thù theo từng lĩnh vực chuyên ngành.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

SƠN BÌNH (thực hiện)

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/phap-luat/pho-bien-giao-duc-phap-luat/tao-co-so-phap-ly-trong-phong-chong-pho-bien-vu-khi-huy-diet-hang-loat-1043336