Tạo động lực phát triển lĩnh vực bưu chính
Thảo luận Tổ 1 (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) về dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), nhiều ý kiến nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với thực tiễn phát triển của ngành bưu chính trong kỷ nguyên số, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước, quyền lợi người sử dụng dịch vụ và hoạt động của doanh nghiệp.
Đổi mới tư duy quản lý
Phát biểu thảo luận tại Tổ, ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ cho rằng: dự thảo Luật đã có nhiều điểm tích cực, thể hiện nỗ lực đổi mới tư duy quản lý và hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực bưu chính. Đồng thời, tham gia thêm một số ý kiến tập trung vào ba nhóm vấn đề: trách nhiệm của doanh nghiệp trong giao nhận bưu gửi theo các mô hình mới; việc kết nối, chia sẻ và thống nhất hạ tầng số; cơ chế bảo đảm cung ứng dịch vụ bưu chính công ích.

ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Trước hết, về địa chỉ, địa điểm nhận bưu gửi và trách nhiệm của doanh nghiệp bưu chính trong giao nhận bưu gửi theo các mô hình mới quy định tại Điều 5 và Điều 41 dự thảo Luật. Đại biểu cho rằng, bên cạnh việc hoàn thiện các tiêu chí xác định dịch vụ bưu chính như Báo cáo thẩm tra đã nêu, cần quan tâm hơn đến việc xác định thời điểm hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong những mô hình giao nhận đang phát triển nhanh chóng hiện nay.
Theo phân tích của đại biểu, trên thực tế, địa điểm giao nhận không còn chỉ là địa chỉ nhà riêng, trụ sở cơ quan của người nhận; bưu gửi có thể được giao tại tủ nhận hàng thông minh, điểm nhận hàng dùng chung hoặc địa điểm do một đơn vị thứ ba vận hành... Những phương thức này giúp tiết kiệm chi phí, tăng tính linh hoạt và thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, nếu quy định pháp luật chỉ dừng ở việc xác định địa chỉ hoặc địa điểm nhận theo thỏa thuận mà chưa làm rõ hệ quả pháp lý của việc giao nhận tại những địa điểm đó thì có thể phát sinh vướng mắc khi xảy ra tranh chấp.
Vì vậy, đại biểu đề nghị rà soát Điều 5 và Điều 41 theo hướng thống nhất cách sử dụng các khái niệm về địa chỉ người nhận, địa điểm nhận và địa điểm phát bưu gửi; đồng thời bổ sung nguyên tắc xác nhận hoàn thành việc phát bưu gửi, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bưu chính khi sử dụng điểm nhận do bên thứ ba vận hành và xử lý trường hợp bưu gửi bị mất, hư hỏng trước khi việc giao nhận được xác nhận hoàn tất. Các quy định chi tiết về phương thức xác nhận có thể giao Chính phủ quy định để bảo đảm linh hoạt theo sự phát triển của công nghệ, nhưng những nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm pháp lý và bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ cần được thể hiện rõ trong Luật.
Bảo đảm khả năng kết nối với hệ thống chung
Về chia sẻ, kết nối và thống nhất hạ tầng số quy định tại Mục 1 Chương V, ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ nhất trí với yêu cầu tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực bưu chính. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần làm rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng tiêu chuẩn, giao thức kết nối dùng chung, thay vì chỉ đặt ra nghĩa vụ kết nối đối với các doanh nghiệp.
Đại biểu dẫn chứng việc báo cáo thẩm tra đã phân tích, quy định về kết nối hệ thống thông tin tại Điều 38 có thể làm phát sinh chi phí đáng kể cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nếu Nhà nước chưa chủ động cung cấp giao thức chuẩn.
"Đây không chỉ là vấn đề chi phí đầu tư của từng doanh nghiệp, mà còn là vấn đề về cách thức tổ chức hạ tầng số của toàn ngành. Nếu mỗi doanh nghiệp phải tự xây dựng giao diện, tiêu chuẩn kỹ thuật và giải pháp kết nối riêng thì việc liên thông dữ liệu sẽ khó đạt hiệu quả thực chất; đồng thời có thể dẫn đến đầu tư trùng lặp, tăng chi phí tuân thủ và tạo ra những rào cản không cần thiết đối với doanh nghiệp mới tham gia thị trường. Ngược lại, nếu có tiêu chuẩn và giao thức kết nối thống nhất, doanh nghiệp có thể chủ động lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp nhưng vẫn bảo đảm khả năng kết nối với hệ thống chung", ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ nhấn mạnh.

Cacs ĐBQH thảo luận tại Tổ 1 (Ảnh: Văn Tuyến)
Ngoài ra, đại biểu cũng nhấn mạnh việc bên cạnh yêu cầu liên thông, cần làm rõ loại dữ liệu được chia sẻ, mục đích sử dụng, chủ thể có quyền tiếp cận, thời hạn lưu trữ và trách nhiệm khi xảy ra sự cố. Đặc biệt, việc khai thác dữ liệu người sử dụng ngoài mục đích cần thiết để cung cấp dịch vụ phải được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với pháp luật về dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Về dịch vụ bưu chính công ích và cơ chế bảo đảm nguồn lực thực hiện tại Chương III, ĐBQH Nguyễn Phương Thuỷ nhất trí với Báo cáo thẩm tra về sự cần thiết phải quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp bưu chính được chỉ định, cũng như cơ chế hỗ trợ của Nhà nước để duy trì mạng bưu chính công cộng và cung cấp dịch vụ bưu chính công ích. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, đại biểu cho rằng cần quan tâm thêm đến cơ chế lựa chọn doanh nghiệp cung ứng, phương pháp xác định chi phí và yêu cầu phân định giữa hoạt động công ích với hoạt động kinh doanh thương mại.
Tránh tạo khoảng trống pháp lý trong công tác quản lý hậu kiểm
Phát biểu thảo luận, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng, để hoàn thiện dự thảo Luật, đáp ứng thực tiễn phát triển của ngành bưu chính trong kỷ nguyên số, đại biểu tập trung phân tích hai vấn đề trong thiết kế thể chế quản lý thị trường bưu chính, gồm sự thiếu thống nhất giữa điều kiện kinh doanh hạ tầng mạng bưu chính với phương thức quản lý hậu kiểm và khoảng trống pháp lý đối với mô hình nhượng quyền thương mại số, kinh tế chia sẻ.
Chỉ ra sự thiếu thống nhất giữa một số quy định, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà cho biết: khoản 1 Điều 11, dự thảo Luật đặt ra yêu cầu doanh nghiệp bưu chính vận hành mạng phải trực tiếp tổ chức, điều phối và kiểm soát đồng thời ba thành phần cốt lõi của mạng bưu chính, gồm hệ thống khai thác và chia chọn bưu gửi; hệ thống điểm phục vụ; hệ thống thông tin vận hành mạng bưu chính. Trong khi đó, khoản 3 Điều 14 quy định, khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký cung cấp dịch vụ bưu chính, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đăng ký, không thẩm định nội dung hồ sơ.

ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận tại Tổ 1. Ảnh: Văn Tuyến
Đáng chú ý, khoản 1 và khoản 2 Điều 50 của dự thảo Luật yêu cầu hơn 700 doanh nghiệp bưu chính đang hoạt động trên thị trường phải thực hiện đăng ký lại trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực, theo các điều kiện quy định tại Điều 13 và Điều 11. Theo đại biểu, đây là điểm nghẽn, tạo ra xung đột trong thiết kế thể chế. Một mặt, dự thảo Luật đặt ra các điều kiện kinh doanh hạ tầng kỹ thuật rất khắt khe, yêu cầu doanh nghiệp phải sở hữu hoặc kiểm soát đồng thời ba hệ thống cốt lõi. Mặt khác, cơ quan quản lý nhà nước lại không thẩm định nội dung hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký.
Sự thiếu thống nhất này có thể tạo khoảng trống pháp lý trong công tác quản lý hậu kiểm. Doanh nghiệp có thể tự kê khai để đăng ký làm doanh nghiệp bưu chính vận hành mạng nhằm tiếp cận các cơ chế ưu đãi về quỹ đất, quy hoạch hạ tầng giao thông đô thị theo dự thảo Luật, trong khi cơ quan nhà nước không thẩm định thực tế năng lực hạ tầng. Ở chiều ngược lại, nếu cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra sau đăng ký nhưng thiếu các tiêu chí định lượng minh bạch để xác định thế nào là kiểm soát đồng thời ba hệ thống, việc thực thi có thể mang tính tùy nghi, gây phiền hà và làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Từ những phân tích trên, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện quy định theo hướng bảo đảm sự thống nhất giữa điều kiện kinh doanh và phương thức quản lý, tránh tình trạng điều kiện đặt ra chặt chẽ nhưng cơ chế xác minh, kiểm soát lại chưa tương xứng.
Bên cạnh đó, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà đề cập đến khoảng trống pháp lý đối với mô hình nhượng quyền thương mại số và kinh tế chia sẻ tại Điều 16 của dự thảo Luật. Thực tiễn phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đã thúc đẩy các doanh nghiệp bưu chính công nghệ mở rộng mạng lưới thông qua mô hình nhượng quyền thương mại số và huy động nguồn lực đám đông. Hàng vạn hộ kinh doanh cá thể, cửa hàng bán lẻ tại các địa phương đã trở thành điểm thu gom, chấp nhận bưu gửi chặng đầu.
Tuy nhiên, theo đại biểu, Điều 16 của dự thảo Luật mới quy định khái quát và dẫn chiếu chung sang pháp luật về thương mại, chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý giữa doanh nghiệp sở hữu nền tảng công nghệ bưu chính và bên nhận nhượng quyền chặng đầu.
Khoảng trống này có thể dẫn đến khó khăn trong xác định trách nhiệm pháp lý liên đới khi xảy ra sự cố mất an toàn, an ninh bưu chính, như vận chuyển hàng cấm, hàng giả, gian lận thương mại hoặc vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng dịch vụ. Đồng thời, các lực lượng chức năng như Công an, Hải quan, Quản lý thị trường có thể gặp vướng mắc trong quá trình điều tra, xử lý vi phạm và truy vết tội phạm.
Từ đó, đại biểu cho rằng, việc hoàn thiện dự thảo Luật cần tính đến đặc điểm của mô hình nhượng quyền thương mại số, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng bưu gửi, qua đó bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước mà vẫn phù hợp với sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới.
Để khắc phục hai vấn đề nêu trên, ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà đề xuất ba nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi). Thứ nhất, sửa đổi Khoản 1 Điều 11 của dự thảo Luật bảo đảm tính linh hoạt, định nghĩa doanh nghiệp bưu chính vận hành mạng dựa trên "năng lực kết nối, tích hợp dữ liệu và trách nhiệm quản lý toàn trình đối với chuỗi cung ứng bưu gửi", không bắt buộc phải sở hữu hoặc kiểm soát đồng thời cả 03 hạ tầng vật lý. Thứ hai, chỉnh lý Khoản 3 Điều 14 của dự thảo Luật theo hướng: Bỏ quy định "không thẩm định nội dung hồ sơ", thay bằng "cơ chế xác nhận đăng ký điện tử tự động kết nối cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, gắn với quản lý rủi ro và trách nhiệm công khai kết quả hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ". Thứ ba, bổ sung vào Điều 16 của dự thảo Luật quy định rõ nguyên tắc "trách nhiệm pháp lý liên đới", đó là doanh nghiệp sở hữu nền tảng công nghệ bưu chính phải chịu trách nhiệm chính về quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm an toàn hệ thống và an ninh bưu gửi; bên nhận nhượng quyền chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các vi phạm do lỗi chủ quan trong khâu tiếp nhận bưu gửi.

