Tạo hành lang pháp lý vững chắc phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
Sáng nay (8/8), Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Luật được xây dựng nhằm thể chế hóa đúng, đầy đủ, kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, hội nhập quốc tế, trong đó có chủ trương gia nhập các cơ chế đa phương về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Đại tướng Phan Văn Giang – Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại phiên thảo luận tại Hội trường sáng nay (8/8) - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Trước đó, tại phiên họp toàn thể tại Hội trường ngày 4/8, Quốc hội đã nghe Đại tướng Phan Văn Giang – Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã trình bày Tờ trình về dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Dự thảo Luật với kết cấu gồm 4 chương, 37 điều được thiết kế theo hướng không thay thế pháp luật chuyên ngành, không đặt ra thủ tục quản lý, cấp phép, khai báo, báo cáo, kiểm tra, thanh tra, giám sát độc lập, trùng lặp; các biện pháp đặc thù chỉ áp dụng khi có căn cứ rủi ro cụ thể, bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, đúng phạm vi, cần thiết, tương xứng và không làm phát sinh gánh nặng tuân thủ bất hợp lý.
Đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới
Về dự án Luật này, tại các phiên thảo luận của đại biểu Quốc hội ở tổ, đã có 73 lượt ý kiến phát biểu góp ý. Các ý kiến đều thống nhất cho rằng, Luật được xây dựng nhằm thể chế hóa đúng, đầy đủ, kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, hội nhập quốc tế, trong đó có chủ trương gia nhập các cơ chế đa phương về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD); đồng thời hoàn thiện khung pháp lý trong nước ở cấp luật để Việt Nam thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết, nghĩa vụ quốc gia về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; đánh giá cao Chính phủ cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật…
Tại phiên thảo luận ở hội trường sáng nay, đối với dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, Quốc hội đã tập trung thảo luận về những vấn đề như: Về nguyên tắc áp dụng pháp luật và các hành vi bị nghiêm cấm; về quản lý rủi ro quốc gia trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và tiêu chí đánh giá rủi ro; về các biện pháp ngăn chặn và phản ứng khẩn cấp; về chương trình tuân thủ nội bộ của các tổ chức, doanh nghiệp và kiểm soát tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; về quản lý nhà nước trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và các nội dung khác của dự thảo luật mà đại biểu quan tâm.
Đóng góp ý kiến cụ thể cho dự án Luật này, đại biểu Bế Xuân Trường (Cao Bằng) cho biết, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường. Nguy cơ xảy ra sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, khủng bố quốc tế luôn cận kề. Các hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để thực hiện mục đích quân sự phi pháp ngày càng gia tăng.
Do vậy, theo đại biểu Bế Xuân Trường, việc xây dựng và ban hành luật này để tạo một hành lang pháp lý vững chắc, có ý nghĩa chính trị hết sức sâu sắc. Nó không chỉ vì mục đích đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, đó chính là bảo vệ hòa bình, giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững, mà còn khẳng định sự cam kết của Việt Nam trong thực hiện pháp luật quốc tế.
Thứ hai là phạm vi điều chỉnh của dự án luật này rất rộng, liên quan nhiều lĩnh vực, ngành của đất nước. Chính vì vậy, việc xây dựng luật đáp ứng được tính lập hiến, lập pháp, tính khả thi và hiệu quả khi ban hành, tôi cho rằng đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng.
Đại biểu cho biết, đã có nhiều hội thảo, hội nghị góp ý cho dự án luật này với tinh thần ý thức trách nhiệm cao với Tổ quốc, với nhân dân, cơ quan soạn thảo dự án Luật đã tiếp thu một cách thấu tình đạt lý, ý thức trách nhiệm cao.
"Dự án luật này đã đáp ứng được tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất cao trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là tính khả thi và hiệu quả khi luật được ban hành", đại biểu Bế Xuân Trường nhấn mạnh.
Góp ý cụ thể cho từng điều của dự án Luật, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Lâm Đồng) cho rằng, về Danh mục kiểm soát (Điều 12). Khoản 1 Điều 12 quy định: "Danh mục kiểm soát theo Luật này là Danh mục hàng hóa lưỡng dụng có nguy cơ bị lợi dụng để phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt". Theo đại biểu, quy định này chỉ mới xác định Danh mục kiểm soát đối với hàng hóa lưỡng dụng, trong khi các quy định về quản lý, kiểm soát tại Điều 13, Điều 15 và Điều 16 lại sử dụng phạm vi rộng hơn, bao gồm hàng hóa, vật liệu, thiết bị, phần mềm, công nghệ và dịch vụ. Việc không thống nhất về phạm vi khái niệm có thể gây khó khăn trong việc xác định đối tượng áp dụng, xây dựng Danh mục kiểm soát và triển khai các biện pháp quản lý trên thực tế, đặc biệt đối với các hình thức chuyển giao công nghệ, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật hoặc hỗ trợ chuyên môn không gắn với hàng hóa hữu hình. Vì vậy, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đề nghị rà soát, sửa đổi Điều 12 theo hướng xác định Danh mục kiểm soát phù hợp với toàn bộ phạm vi đối tượng chịu sự quản lý, kiểm soát của luật, bảo đảm sự thống nhất giữa Điều 12, Điều 13, Điều 15 và Điều 16.
Về Biện pháp ngăn chặn và phản ứng khẩn cấp (Điều 17): Khoản 5 Điều 17 hiện quy định thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn khẩn cấp (như tạm dừng hoạt động, tạm giữ hàng hóa...) tối đa không quá 24 giờ kể từ thời điểm áp dụng. Đại biểu cho rằng, thời hạn 24 giờ là quá ngắn và thiếu tính thực tiễn. Đối với các vụ việc liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt, việc giám định kỹ thuật độc tính hóa học, nồng độ phóng xạ, phân tích mã nguồn công nghệ hay xác minh mạng lưới đối tác qua kênh ngoại giao, tình báo quốc tế có thể không hoàn thành trong 24 giờ.
Do đó, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đề nghị chỉnh sửa Khoản 5 Điều 17 theo hướng nâng thời hạn áp dụng lên không quá 48 giờ, đồng thời cho phép gia hạn một lần không quá 48 giờ đối với các vụ việc phức tạp cần thời gian kiểm định chuyên sâu.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) đóng góp ý kiến tại phiên thảo luận ở Hội trường - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Cần có cơ chế hỗ trợ phòng ngừa vi phạm, nâng cao năng lực thực thi cấp trực tiếp xử lý tình huống
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) cho rằng, cần thiết kế có cơ chế hỗ trợ tuân thủ theo hướng phòng ngừa vi phạm, chứ không chỉ phát hiện và xử lý vi phạm.Đây là lĩnh vực rất chuyên sâu. Có những hàng hóa, thiết bị, phần mềm hoặc công nghệ bản thân hoàn toàn hợp pháp và được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu, sản xuất, y tế, công nghiệp, nhưng trong những điều kiện nhất định lại có thể trở thành đối tượng bị lợi dụng.Vì vậy, một doanh nghiệp hay cơ sở nghiên cứu nhiều khi không thiếu ý thức tuân thủ mà không đủ khả năng tự xác định chính xác ranh giới pháp lý của một giao dịch hoặc một công nghệ cụ thể. Dự thảo đã quy định về hướng dẫn tuân thủ, chương trình tuân thủ nội bộ và hỗ trợ doanh nghiệp. Bộ Quốc phòng cũng giải trình theo hướng phân tầng nghĩa vụ theo quy mô, lĩnh vực và mức độ rủi ro, tránh tạo thêm chi phí không cần thiết.
Tuy nhiên, đại biểu Việt Nga đề nghị nghiên cứu thêm một cơ chế tham vấn trước. Cơ chế này có hai lợi ích. Một mặt, giúp Nhà nước phát hiện sớm các lĩnh vực, công nghệ và phương thức giao dịch mới. Mặt khác, tạo "vùng an toàn pháp lý" cho những chủ thể có thiện chí tuân thủ.
Đại biểu Việt Nga cũng cho rằng, quản lý dựa trên rủi ro phải đi cùng trách nhiệm giải trình đối với kết quả đánh giá rủi ro. Đại biểu đồng tình cao với việc cơ quan soạn thảo tiếp tục giữ cách tiếp cận đánh giá rủi ro quốc gia và đã làm rõ cơ chế cập nhật khi xuất hiện nguy cơ mới, thay vì áp dụng máy móc một chu kỳ cố định. Nhưng cần nhìn thêm một bước: khi kết quả đánh giá rủi ro trở thành căn cứ để xác định địa bàn trọng điểm, tăng tần suất kiểm tra, yêu cầu bổ sung thông tin hoặc áp dụng một số biện pháp kiểm soát, thì chất lượng của kết quả đánh giá đó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và chi phí tuân thủ của tổ chức, doanh nghiệp.
Do đó, đại biểu Việt Nga đề nghị văn bản quy định chi tiết phải xác định rõ ba nguyên tắc. Một là, dữ liệu phục vụ đánh giá phải có nguồn gốc, có khả năng kiểm chứng và được cập nhật thường xuyên. Hai là, quyết định áp dụng biện pháp quản lý cụ thể không thể chỉ dựa vào một kết quả phân loại rủi ro mang tính máy móc. Khi sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo hoặc hệ thống cảnh báo tự động thì quyết định cuối cùng vẫn phải thuộc về chủ thể có thẩm quyền và có trách nhiệm giải trình. Ba là, phải có cơ chế hiệu chỉnh khi dữ liệu sai, thông tin đã thay đổi hoặc một chủ thể bị đánh giá rủi ro không còn phù hợp.
Đại biểu đề nghị cần quan tâm hơn đến năng lực thực thi ở cấp trực tiếp xử lý tình huống. Ngoài việc đào tạo, huấn luyện định kỳ, cần xây dựng mạng lưới chuyên gia hỗ trợ liên ngành, có cơ chế tham vấn nhanh cho lực lượng tại cửa khẩu, cảng biển, cảng hàng không, trung tâm logistics hoặc địa bàn trọng điểm khi gặp tình huống chưa thể kết luận. Đồng thời, việc diễn tập nên được thiết kế theo tình huống liên ngành, không chỉ kiểm tra khả năng phát hiện hàng hóa mà cả khả năng xác minh người sử dụng cuối cùng, nguồn tiền, dữ liệu kỹ thuật và phối hợp giữa các cơ quan.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) tán thành với ý kiến của cơ quan thẩm tra và đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo là Chính phủ đã tiếp thu nhiều nội dung đại biểu thảo luận tại tổ.
Đối với một số vấn đề cụ thể, đại biểu Dương Khắc Mai đóng góp ý kiến về đối tượng áp dụng ở Điều 2, cần làm rõ nguyên tắc xử lý đối với hoạt động có yếu tố phi biên giới, nhất là chuyển giao phần mềm, dữ liệu kỹ thuật, dịch vụ kỹ thuật, giao dịch tài chính hoặc hoạt động trên không gian mạng có thể tác động đến Việt Nam. Áp dụng đối với hành vi được thực hiện ngoài lãnh thổ cần căn cứ thẩm quyền tài phán, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan, tránh lạm dụng cơ chế chế tài ngoài lãnh thổ khi chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng.
Về hành vi bị nghiêm cấm ở Điều 7, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị tiếp tục đối chiếu chặt chẽ Điều 7 với Bộ luật Hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, quản lý ngoại thương, hải quan, năng lượng nguyên tử, hóa chất, phòng, chống rửa tiền và các luật chuyên ngành để tránh trùng lặp, mâu thuẫn và hình thành các hiểu khác nhau về cùng một hành vi. Trường hợp nghiên cứu, sản xuất, quản lý, sử dụng hàng hóa, vật liệu công nghệ lưỡng dụng được cơ quan có thẩm quyền cho phép hoặc phục vụ mục đích vì hòa bình, hợp pháp, cần được phân biệt rõ với hành vi bị nghiêm cấm.
Về kiểm soát tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Điều 21, đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát Điều 21 theo hướng bao quát rủi ro từ tài sản số, tài sản mã hóa và các phương thức chuyển giao giá trị mới nhưng phải bảo đảm thống nhất với pháp luật phòng, chống rửa tiền, ngân hàng, tổ chức tín dụng, giao dịch điện tử và dữ liệu, không hình thành hệ thống báo cáo kiểm soát song song cùng một giao dịch.

Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Cơ sở quan trọng để hoàn thiện dự thảo luật bảo đảm tính khả thi, thống nhất của hệ thống
Phát biểu giải trình và làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu tại phiên thảo luận, thay mặt Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, qua tổng hợp thảo luận tại tổ và hội trường, các vị đại biểu Quốc hội về cơ bản thống nhất về sự cần thiết ban hành luật. Đồng thời đề nghị tiếp tục làm rõ một số nội dung cốt lõi của dự luật, trong đó tập trung vào giải thích từ ngữ, khái niệm, phạm vi điều chỉnh, biện pháp pháp lý, kiểm soát, bảo vệ quyền con người, quyền của tổ chức, cá nhân, trách nhiệm của các cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ sở dữ liệu, việc hỗ trợ tuân thủ.
Đại tướng Phan Văn Giang cho biết cơ quan soạn thảo dự án luật sẽ nghiêm túc tiếp thu các ý kiến thảo luận của các vị đại biểu Quốc hội, tiếp tục chỉnh lý cụ thể các nội dung, giải quyết nhất quán ba mối quan hệ:
Một là, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, nhưng không cản trở hoạt động dân sự, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo hợp pháp.
Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng không làm phát sinh thủ tục, bộ máy, chế độ báo cáo hoặc nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp.
Ba là, quy định rõ ngay trong luật những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, căn cứ, thẩm quyền, thời hạn và giới hạn áp dụng các biện pháp; không giao quy định chi tiết theo hướng mở rộng thẩm quyền hoặc nhằm hạn chế quyền ngoài phạm vi của tờ trình./.











