Tạo khuôn khổ pháp lý lần đầu tiên về công dân số

Nghị quyết ban hành nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về công dân số, quy định rõ địa vị pháp lý, các lợi ích và trách nhiệm của công dân khi tham gia môi trường số. Đây được xem là bước đi quan trọng trong xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Ảnh minh họa. (Nguồn: HN)

Ảnh minh họa. (Nguồn: HN)

Đề xuất nhiều quyền lợi, ưu đãi gắn với điểm số công dân

Theo thông tin từ Bộ Công an, sau 3 năm triển khai thực hiện, tính đến tháng 7/2025, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 về việc phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06) đã cơ bản đạt được các mục tiêu có tính chất nền tảng. Kết quả của Đề án 06 đã góp phần giúp Việt Nam đạt được bước tiến đáng kể trong Bảng xếp hạng Phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) năm 2024 của Liên hợp quốc với việc Việt Nam đã tăng 15 bậc so với năm 2022, để đạt vị trí thứ 71 trên tổng số 193 quốc gia thành viên.

Trong Đề án 06, công dân số được xác định là yếu tố nền tảng, quyết định sự thành công của chuyển đổi số ở cả 3 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Để tiếp tục nâng cao hơn nữa các thành tựu của Đề án 06, cần phải hết sức chú trọng đến việc phát triển công dân số, bảo đảm hài hòa giữa việc thụ hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ của công dân trong môi trường số.

Tuy nhiên, hiện tại, tình hình phát triển công dân số của Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định. Cụ thể như: Vẫn còn sự chênh lệch lớn về năng lực số của người dân giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư khác nhau; hạ tầng công nghệ và hệ thống lưu trữ giữa các bộ, ngành chưa thực sự hiệu quả đặc biệt; việc phổ cập các hạ tầng số, đặc biệt là định danh điện tử VNeID, vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí để thay đổi thói quen của người dân từ môi trường truyền thống sang môi trường số.

Vì vậy, việc xây dựng Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện đầu tiên tại Việt Nam về công dân số, quy định rõ địa vị pháp lý, các lợi ích và trách nhiệm của công dân khi tham gia môi trường số. Đồng thời, thúc đẩy việc nâng cao năng lực số, kỹ năng số và nhận thức về an toàn thông tin cho toàn dân, thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực thành thị, nông thôn và các nhóm dân cư, giải quyết “khoảng trống” thực tế giữa thành tựu kỹ thuật và khả năng sử dụng của người dân….

Để trở thành công dân số, dự thảo Nghị quyết quy định phải được cấp tài khoản định danh điện tử trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID); tuân thủ các nghĩa vụ của công dân số, tham gia định danh, xác thực trên môi trường số, có khả năng sử dụng dịch vụ công và dịch vụ số an toàn, hợp pháp, đóng góp dữ liệu, tham gia các hoạt động chuyển đổi số quốc gia và đã được xếp hạng công dân số.

Để khuyến khích người dân chủ động tham gia, dự thảo Nghị quyết đề xuất cơ chế ghi nhận mức độ tích cực tham gia của công dân trên môi trường số gắn liền với các ưu đãi thiết thực. Dựa trên mức độ tích cực trau dồi kỹ năng số, tham gia dịch vụ công, các giao dịch số khác, công dân sẽ được hưởng thêm các chính sách miễn giảm thuế, phí như miễn 100% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính cơ bản, thiết yếu, gắn với quyền nhân thân hoặc thủ tục hành chính có tần suất cao; giảm tối thiểu 50% phí, lệ phí đối với các thủ tục hành chính phức tạp, cần nhiều chi phí quản lý.

Việc xây dựng và triển khai “Hệ thống Điểm công dân số” gắn với dữ liệu dân cư, danh tính điện tử. Điểm được tính dựa trên cập nhật dữ liệu, tần suất sử dụng dịch vụ số và các đóng góp cho cộng đồng số. Điểm số được gắn với các quyền lợi, ưu đãi về thuế, phí, dịch vụ, thủ tục hành chính, an sinh xã hội.

Bảo đảm tính khả thi, quyền bình đẳng của người dân

Tại phiên họp Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số, ngày 13/1, các thành viên Hội đồng đánh giá cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số để thúc đẩy phát triển công dân số, bảo vệ quyền lợi và nâng cao năng lực số của người dân trong kỷ nguyên số.

Tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo, Nghị quyết theo bà Mai Thị Thanh Bình, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị cần nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng việc sử dụng cụm từ “xếp hạng, phân loại công dân” bảo đảm phù hợp, tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; rà soát các tiêu chí bảo đảm tính khả thi, công bằng giữa các đối tượng khác nhau về độ tuổi, trình độ, điều kiện kinh tế xã hội...; rà soát, bảo đảm đồng bộ, thống nhất các nội dung về chữ ký số, công dân số với Luật Chuyển đổi số và Luật Giao dịch điện tử.

 Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu tại phiên họp Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số. (Ảnh: TL)

Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu tại phiên họp Hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số. (Ảnh: TL)

Liên quan Hệ thống chấm điểm công dân số, đại diện Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp cho rằng việc quy định về chấm điểm công dân số có thể gây ra những rào cản tâm lý nhất định, do đó có thể cân nhắc chỉ quy định chung về công dân cơ bản khi tham gia dịch vụ công.

Một số ý kiến cho rằng việc phân chia “công dân số” thành các nhóm “tích cực”, “cơ bản” và “phổ thông” để hưởng các mức độ ưu đãi khác nhau cũng có thể dẫn đến sự bất bình đẳng. Những người am hiểu công nghệ sẽ có lợi thế hơn so với những người khác, kể cả trong khu vực công. Do đó, cần chỉnh sửa bảo đảm sự hài hòa giữa việc thụ hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ, giúp người dân có đầy đủ công cụ và hành lang pháp lý để sống và làm việc an toàn, hiệu quả trong kỷ nguyên số.

Tại buổi thẩm định, các thành viên Hội đồng cho rằng cần làm rõ hơn khái niệm “công dân số”, tránh trùng lắp với các khái niệm đã có; xem xét lại các quy định về nghĩa vụ của công dân, bảo đảm phù hợp và khuyến khích, chứ không phải là bắt buộc; cần có cơ sở rõ ràng, cụ thể để phân loại, chấm điểm công dân số, mở rộng quyền giám sát của người dân đối với hệ thống thông tin có sử dụng đầu tư công…

Về phạm vi điều chỉnh và các chính sách ưu đãi, Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đề nghị rà soát kỹ, tránh quy định trùng lặp hoặc can thiệp sâu vào các lĩnh vực đã được luật chuyên ngành điều chỉnh, nhất là các chính sách ưu đãi về thuế, phí, lệ phí. Đối với chính sách giảm thuế, cần cân nhắc kỹ tính khả thi, tác động thực tế và khả năng thực hiện của hệ thống thuế, bởi đây là vấn đề phức tạp về kỹ thuật và quản lý. Bên cạnh đó, đối với các dịch vụ công trực tuyến, cần phân biệt rõ giữa dịch vụ công bắt buộc và các dịch vụ thương mại điện tử thông thường; tránh việc thiết kế chính sách dẫn đến hạn chế quyền tiếp cận dịch vụ của công dân hoặc tạo ra sự phân biệt không cần thiết.

Thứ trưởng cũng lưu ý, cơ quan soạn thảo cần giải trình rõ phương án áp dụng, lộ trình thí điểm, tổng kết, hoàn thiện chính sách, làm rõ mối quan hệ giữa Nghị quyết này với các luật liên quan như Luật Thuế, Luật Phí và lệ phí, Luật Tổ chức Chính phủ. Trường hợp quy định liên quan thẩm quyền của Bộ Tài chính hoặc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cần có giải trình đầy đủ về cơ sở pháp lý và thẩm quyền ban hành; làm rõ nguồn lực tài chính, nhân lực, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là việc khai thác, vận hành các nền tảng số hiện có; đánh giá tác động về giới, dân tộc, bảo đảm có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, tránh tạo khoảng cách số.

Chỉ ra việc sử dụng các khái niệm như “điểm”, “xếp hạng”, “phân loại công dân số” đang tạo ra nhiều cách hiểu chưa thống nhất, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý chỉnh lý theo hướng chuyển sang cách tiếp cận là “ngưỡng” hoặc “mức khuyến khích”, nhằm thống nhất và bảo đảm tính phù hợp Hiến pháp.

VY ANH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/tao-khuon-kho-phap-ly-lan-dau-tien-ve-cong-dan-so-post936698.html