Tạo lực cho tăng trưởng 2 con số - Bài 1: Chính sách thuế và 3 trụ cột hỗ trợ doanh nghiệp
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số đặt ra yêu cầu duy trì động lực sản xuất, kinh doanh, mở rộng đầu tư và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh chi phí đầu vào, sức mua và áp lực cạnh tranh còn lớn, chính sách thuế năm 2026 được triển khai theo ba hướng: giảm nghĩa vụ thuế, hỗ trợ dòng tiền và giảm chi phí tuân thủ.
Việc kết hợp linh hoạt các giải pháp tài chính không chỉ giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn thể hiện tư duy chấp nhận nhượng bộ nguồn thu ngắn hạn để "nuôi dưỡng nguồn thu" và thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn, hướng tới mục tiêu này.
Thông tấn xã Việt Nam thực hiện loạt bài "Tạo lực cho tăng trưởng 2 con số" phân tích toàn diện các trụ cột chính sách thuế giúp tháo gỡ khó khăn, "nuôi dưỡng nguồn thu" và tạo động lực bứt phá bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp.

Cán bộ Thuế cơ sở 7 (Thuế An Giang) hướng dẫn người dân làm thủ tục thuế theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Ảnh minh họa: Phạm Hậu/TTXVN
Bài 1: Chính sách thuế và 3 trụ cột hỗ trợ doanh nghiệp
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, chính sách thuế năm 2026 được triển khai đồng bộ theo hướng giảm nghĩa vụ thuế, hỗ trợ dòng tiền và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Giảm nghĩa vụ thuế, tăng nguồn lực cho sản xuất
Giảm nghĩa vụ thuế tác động trực tiếp đến số tiền doanh nghiệp phải nộp ngân sách, qua đó tạo thêm nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư. Theo đó, chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện áp dụng, đưa mức thuế suất từ 10% xuống 8%, tiếp tục được thực hiện đến hết ngày 31/12/2026.
Bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc một công ty chuyên sản xuất nhựa và nilon, cho biết doanh nghiệp đã tiết kiệm hơn 1 tỷ đồng nhờ các chính sách gia hạn, giảm thuế; trong đó có chính sách giảm thuế giá trị gia tăng xuống 8%. Khoản tiền này được doanh nghiệp sử dụng để đầu tư máy móc và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Trao đổi với báo chí PGS-TS Lý Phương Duyên, Học viện Tài chính, cho rằng chính sách thuế đối với doanh nghiệp cần được nhìn nhận đồng thời ở ba khía cạnh: huy động nguồn lực, nuôi dưỡng nguồn thu và thúc đẩy tăng trưởng. Theo bà, không thể chỉ nhìn vào số thu ngân sách trong ngắn hạn, mà cần tính đến tác động của chính sách thuế đối với quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất và đổi mới của doanh nghiệp, qua đó góp phần mở rộng cơ sở thuế trong những năm tiếp theo.
Mặc dù triển khai nhiều gói miễn, giảm và gia hạn thuế quy định lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng, tổng thu ngân sách 8 tháng qua vẫn đạt kết quả ấn tượng, cho thấy hiệu quả kép trong việc vừa tạo đà "nuôi dưỡng nguồn thu", vừa đồng hành tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp.
Trong 9 tháng năm 2026, Nhà nước đã thực hiện miễn, giảm khoảng 185,6 nghìn tỷ đồng thuế, phí và tiền thuê đất; gia hạn khoảng 60 nghìn tỷ đồng. Theo Bộ Tài chính, các chính sách này nhằm hỗ trợ dòng tiền, giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì, phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Chi phí tuân thủ thủ tục thuế cũng giảm hơn 51% so với năm 2024. Cùng thời gian này, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 2.187,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ
Cùng với giảm thuế giá trị gia tăng, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp tiếp tục được điều chỉnh theo quy mô. Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 3 tỷ đồng áp dụng thuế suất thu nhập doanh nghiệp 15%; doanh nghiệp có doanh thu trên 3 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng áp dụng thuế suất 17%; mức thuế suất thông thường là 20%, với các điều kiện theo quy định.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa mới gia nhập thị trường, Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân và Nghị định 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, với các điều kiện và trường hợp loại trừ cụ thể.
Nghị quyết 198/2025/QH15 cũng quy định ưu đãi thuế đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động này, theo điều kiện quy định.
Đối với hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chi phí nghiên cứu và phát triển được tính vào chi phí được trừ ở mức bằng 200% chi phí thực tế theo quy định.
Từ ngày 1/1/2026, doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh cũng không còn phải nộp lệ phí môn bài. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh, doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng; cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
Đáng chú ý, Nghị quyết 43/2026/QH16 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 tiếp tục bổ sung hỗ trợ đối với nhóm doanh nghiệp và hộ, cá nhân kinh doanh quy mô nhỏ.
Theo Nghị quyết này, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp. Đối với doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng, mức giảm cũng là 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết khoản thuế được giảm trước mắt làm giảm thu ngân sách, nhưng về lâu dài là nguồn lực được giữ lại để hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp tái đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập và đóng góp trở lại ngân sách.
Theo PGS-TS Lý Phương Duyên, Học viện Tài chính, giảm nghĩa vụ thuế có thể dành lại một phần nguồn lực cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới và phát triển. Theo bà, một ưu đãi thuế chỉ thực sự tạo giá trị khi làm phát sinh đầu tư, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ và mở rộng hoạt động, qua đó góp phần gia tăng nguồn thu trong tương lai.
Gia hạn thuế, hỗ trợ dòng tiền và giảm chi phí tuân thủ
Nếu giảm thuế làm giảm trực tiếp nghĩa vụ tài chính thì gia hạn thuế tác động vào thời điểm doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ. Đây là kênh hỗ trợ dòng tiền, nhất là với doanh nghiệp có nhu cầu vốn lưu động lớn.
Nghị định 245/2026/NĐ-CP ngày 27/6/2026 gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2026 cho doanh nghiệp, tổ chức, hộ và cá nhân kinh doanh thuộc các nhóm đối tượng, ngành nghề theo quy định. Một số khoản thuế được gia hạn tối đa 5 tháng; 50% tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2026 được gia hạn 5 tháng. Chính sách áp dụng cho 43 nhóm ngành, lĩnh vực.
Theo dự kiến của Bộ Tài chính, quy mô chính sách gia hạn thuế và tiền thuê đất năm 2026 khoảng 125 nghìn tỷ đồng.
TS Nguyễn Quang Huy, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng điểm đáng chú ý của chính sách gia hạn thuế là không làm thay đổi nghĩa vụ thuế mà điều chỉnh thời điểm thực hiện nghĩa vụ tài chính. Theo ông, khoản thuế và tiền thuê đất chưa phải nộp ngay sẽ trở thành nguồn vốn lưu động, giúp doanh nghiệp bổ sung nguyên vật liệu, duy trì việc làm, thanh toán cho nhà cung cấp, mở rộng đơn hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khác với khoản thuế được miễn, giảm, thuế được gia hạn vẫn là nghĩa vụ doanh nghiệp phải thực hiện sau thời gian gia hạn. Vì vậy, chính sách chủ yếu hỗ trợ khả năng điều hòa dòng tiền trong ngắn hạn, giúp doanh nghiệp giảm áp lực thanh khoản và có thêm thời gian bố trí nguồn lực.
Trong 8 tháng năm 2026, tổng số tiền thuế, phí và tiền thuê đất được miễn, giảm, gia hạn đạt khoảng 209,2 nghìn tỷ đồng. Tổng thu ngân sách đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ; thu nội địa đạt 1.752,9 nghìn tỷ đồng, bằng 79,7% dự toán và tăng 16,6%.
Như vậy, các chính sách hỗ trợ được thực hiện đồng thời với nhiệm vụ bảo đảm nguồn thu; trong đó miễn, giảm thuế làm thay đổi nghĩa vụ tài chính, còn gia hạn thuế chủ yếu làm thay đổi thời điểm thực hiện nghĩa vụ.
Bên cạnh giảm nghĩa vụ và hỗ trợ dòng tiền, giảm chi phí tuân thủ là trụ cột thứ ba trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là nhóm giải pháp không trực tiếp làm giảm số thuế phải nộp nhưng tác động đến thời gian, nhân lực và chi phí để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế.
Theo Bộ Tài chính, trong 6 tháng đầu năm, 99,4% doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử; 98,9% doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử với ngân hàng.
Tại Thuế Hà Nội, khoảng 98% hộ kinh doanh có tài khoản giao dịch điện tử và cài đặt eTax Mobile; 100% hồ sơ khai thuế được nộp đúng hạn; khoảng 60% hộ thực hiện nộp thuế điện tử.
Bà Nguyễn Thu Hằng, một hộ kinh doanh tại Hà Nội cho biết việc sử dụng eTax Mobile giúp thực hiện nghĩa vụ thuế thuận tiện hơn.
Phó Cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn cho biết cải cách thủ tục hành chính, thay đổi quy định pháp luật và xây dựng các ứng dụng quản lý thuế đã góp phần giảm chi phí, thời gian tuân thủ của doanh nghiệp và người nộp thuế.
Cùng với điện tử hóa, cơ quan thuế đang chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp để xác định chính xác trạng thái hoạt động, phân tích rủi ro, kiểm soát các trường hợp có dấu hiệu vi phạm và kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Việc khai, nộp thuế điện tử giúp giảm thời gian đi lại, xử lý hồ sơ và nhân lực dành cho thủ tục hành chính. Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp cũng giảm việc cung cấp lại những thông tin đã được cơ quan nhà nước quản lý.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam từng ghi nhận việc xác định hàng hóa, dịch vụ thuộc diện thuế suất 8% hay 10% trong một số trường hợp còn phát sinh vướng mắc, khiến doanh nghiệp phải dành thêm nguồn lực cho kế toán, hóa đơn, sổ sách. Điều này cho thấy chi phí tuân thủ không chỉ nằm ở thời gian thực hiện thủ tục mà còn ở nguồn lực doanh nghiệp phải bỏ ra để xác định và áp dụng đúng chính sách.
Do đó, theo các chuyên gia kinh tế cùng với mở rộng dịch vụ thuế điện tử, việc chuẩn hóa dữ liệu, hướng dẫn rõ điều kiện áp dụng và giảm những khâu doanh nghiệp phải tự đối chiếu cũng là một phần của quá trình giảm chi phí tuân thủ.
Thời gian tới, ngành thuế cho biết sẽ tiếp tục rà soát, hướng dẫn kịp thời các chính sách mới; đẩy mạnh cải cách thủ tục, chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu và kết nối, chia sẻ thông tin để giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Cùng với đó, cơ quan thuế tăng cường quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực, đối tượng có dấu hiệu vi phạm, qua đó vừa bảo đảm chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng, vừa giữ vững kỷ luật thu ngân sách.
