Tạo nguồn lực tài chính cho tăng trưởng hai con số

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hai con số trong giai đoạn 2026-2030 và tiến tới trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực cho phát triển, trong đó đa dạng hóa các nguồn vốn giữ vai trò then chốt.

Bên cạnh ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng, việc khai thác hiệu quả các kênh huy động vốn hiện đại đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tạo thêm dư địa tài chính cho nền kinh tế.

Nền tảng vững chắc từ nguồn lực truyền thống

Năm 2024, thu ngân sách đạt 2,025 triệu tỷ đồng, vượt 19,1% dự toán, tăng 15,5% so với năm 2023, phản ánh nền kinh tế phục hồi tích cực sau đại dịch và các chính sách thu phát huy hiệu quả. Sang năm 2025, thu ngân sách tiếp tục khả quan khi đến ngày 15-12-2025, thu ngân sách nhà nước lập kỷ lục, đạt 2.469 nghìn
tỷ đồng, vượt 25,5% dự toán. Dự kiến, tổng thu cả năm đạt gần 2,55 triệu tỷ đồng, vượt 29,9 % dự toán.

Nguồn thu ngân sách ổn định không chỉ giúp Nhà nước duy trì kỷ luật tài chính, mà còn tạo điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, coi đây là “đòn bẩy” kích thích tăng trưởng. Việc tập trung vốn cho các dự án hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục đã góp phần lan tỏa tác động tích cực tới nhiều ngành, lĩnh vực, thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thị trường chứng khoán sẽ tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.

Thị trường chứng khoán sẽ tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế trong giai đoạn mới.

Song song với chính sách tài khóa, dòng vốn tín dụng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ yếu, là nguồn cung vốn chủ yếu cho doanh nghiệp, nền kinh tế. Chính sách tín dụng được điều hành theo hướng bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.

Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp như điều chỉnh lãi suất, nới “room” tín dụng có kiểm soát, chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Những giải pháp này góp phần cải thiện khả năng tiếp cận vốn, giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp và người dân.

Dự kiến đến cuối năm 2025, trong điều kiện các tổ chức tín dụng huy động vốn hiệu quả, bảo đảm an toàn và bền vững, tăng trưởng tín dụng có thể đạt khoảng 19% nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế. Đây là mức tăng trưởng tín dụng cao so với nhiều năm gần đây.

Tuy nhiên, nhu cầu vốn cho phát triển trong thời gian tới rất lớn. Nguồn lực từ ngân sách nhà nước có những giới hạn nhất định, trong khi tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cao.

Thực trạng này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, đồng thời cho thấy sự phát triển chưa tương xứng của các kênh dẫn vốn khác. Khi tín dụng ngân hàng trở thành nguồn vốn chủ đạo, rủi ro đối với hệ thống tài chính và nền kinh tế theo đó cũng gia tăng.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhìn nhận, trong những năm tới, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, tín dụng ngân hàng sẽ được đẩy lên nữa, điều này càng rủi ro cho nền kinh tế. Để kinh tế tăng trưởng mạnh, cần dựa nhiều hơn vào vốn huy động trên thị trường chứng khoán, gồm cổ phiếu, trái phiếu và những kênh huy động vốn hiện đại khác.

Mở rộng các kênh dẫn vốn mới

Đối với thị trường chứng khoán, Bộ Tài chính đang nỗ lực tháo gỡ từng điểm nghẽn chính sách, công nghệ để mở rộng cơ hội tiếp cận cho nhà đầu tư nước ngoài. Trong đó có việc rút ngắn thời gian đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường sau khi sở giao dịch chứng khoán đã chấp thuận niêm yết chứng khoán.

Các quy định này dự kiến giúp quá trình đưa chứng khoán vào niêm yết, giao dịch ngắn hơn 3-6 tháng so với trước, nhằm giúp quá trình IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng) nhanh hơn, tăng tính hấp dẫn của các đợt IPO. Bên cạnh đó, quy định mới đã cho phép tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam được mua cổ phiếu mà không cần có đủ tiền ngay tại thời điểm đặt lệnh giao dịch.

Cùng với đó, khi thị trường chứng khoán Việt Nam dự kiến được chính thức nâng hạng vào tháng 9-2026, dòng vốn đầu tư, đặc biệt là từ nhà đầu tư nước ngoài, được kỳ vọng sẽ đổ vào mạnh mẽ hơn. Qua đó, thị trường chứng khoán sẽ phát huy vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, thị trường tài sản số, tài sản mã hóa được đánh giá là lĩnh vực giàu tiềm năng. Việt Nam nằm trong tốp 3 quốc gia hàng đầu thế giới về tài sản mã hóa, với quy mô ước tính hiện hơn 220 tỷ USD và khoảng 20 triệu người sở hữu. Nhận định về vấn đề này, Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam Phan Đức Trung cho biết, Việt Nam đang từng bước hình thành khung pháp lý cho tài sản số với tư duy chính sách ngày càng rõ nét.

Cột mốc quan trọng đầu tiên là Nghị quyết số 57-NQ/TƯ ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, khi lần đầu tiên công nghệ blockchain được đưa vào văn kiện định hướng, qua đó mở đường cho việc xây dựng các văn bản hành pháp tiếp theo.

Tiếp đó, Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9-9-2025 của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đã thiết lập hành lang pháp lý thí điểm cho thị trường tài sản mã hóa thông qua mô hình sàn giao dịch, với quy mô vốn dự kiến khoảng 10.000 tỷ đồng mỗi sàn, tạo ra một “không gian thử nghiệm” có kiểm soát.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của kinh tế số, trong đó tài sản số và công nghệ blockchain dần trở thành động lực tăng trưởng quan trọng. Việc mã hóa tài sản, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, được kỳ vọng tạo ra kênh huy động vốn hiệu quả, qua đó giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Với tài sản mã hóa dựa trên tài sản thực, doanh nghiệp Việt Nam có thể phát hành tài sản số ra công chúng để thu hút nguồn vốn, thay vì chỉ vay vốn trung và dài hạn từ ngân hàng.

Cơ chế này mang lại lợi ích cho nhiều chủ thể: Ngân hàng giảm rủi ro thanh khoản, doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý dòng vốn, còn nhà đầu tư có thêm kênh đầu tư sinh lời mới. Vì thế, thực hiện thí điểm cần triển khai nhanh để rút ra kinh nghiệm, hoàn thiện các quy định.

Ông Phan Đức Trung cũng đưa quan điểm, mặc dù việc thiết lập khung khổ pháp lý cho công nghệ blockchain và tài sản mã hóa đã hình thành, song để thực sự được khai thông như một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, Việt Nam vẫn phải giải quyết thêm nhiều bài toán về hạ tầng và vận hành.

Bên cạnh thị trường tài sản mã hóa, cho vay ngang hàng (P2P lending) - mô hình dựa trên việc sử dụng nền tảng công nghệ số để kết nối trực tiếp giữa người có vốn nhàn rỗi muốn cho vay (nhà đầu tư hoặc bên cho vay) với người đang có nhu cầu sử dụng vốn (người vay), cũng là một kênh huy động vốn đáng chú ý. Mô hình này được cho là sẽ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho nhiều người dân và doanh nghiệp nhỏ, qua đó đóng góp cho tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn thử nghiệm có kiểm soát mô hình P2P lending. Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, thông tin về thử nghiệm mô hình này vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nội dung như số lượng doanh nghiệp được tham gia, cơ chế hoạt động, quy mô dư nợ tín dụng được cung ứng, lượng vốn huy động...

Một số chuyên gia khác cho rằng, việc triển khai thí điểm có kiểm soát mô hình P2P lending là cơ hội để thị trường tài chính mở rộng thêm kênh dẫn vốn mới. Tuy nhiên, để mô hình này phát triển lành mạnh, ổn định tại Việt Nam, khung pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện, tiến tới xây dựng hành lang pháp lý chính thức.

Trong đó, cần có các quy định rõ ràng về giới hạn dư nợ theo từng loại hình vay, cơ chế xử lý nợ xấu nhằm bảo vệ quyền lợi của bên cho vay. Cùng với hoàn thiện pháp lý, hạ tầng dữ liệu cần được liên thông, cho phép các công ty P2P kết nối và truy cập thông tin cần thiết trên cơ sở có sự đồng ý của khách hàng.

Sự kết hợp hài hòa giữa nguồn vốn truyền thống và các kênh tài chính mới dựa trên công nghệ không chỉ giúp phân tán rủi ro cho hệ thống tài chính, giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng, mà còn mở rộng dư địa huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Các dòng vốn này được kết nối thông suốt, vận hành minh bạch và hiệu quả sẽ tạo thành động lực tài chính đủ mạnh, bền vững, qua đó đưa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số ngày càng khả thi hơn trong giai đoạn tới.

Hương Thủy

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/tao-nguon-luc-tai-chinh-cho-tang-truong-hai-con-so-728972.html