Tạo sức bật từ thể chế, nguồn lực để kinh tế số bứt phá

Đưa tỷ trọng kinh tế số từ 14% lên 30% GDP vào năm 2030 là một thách thức lớn. Bài toán đặt ra hiện nay không dừng ở việc đưa công nghệ vào vận hành, mà nằm ở các giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, hạ tầng dữ liệu và nguồn lực để tạo động lực bứt phá thực chất.

Còn nhiều điểm nghẽn

Kinh tế số đang khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam, định hình lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo ước tính, tỷ trọng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GDP năm 2025 đạt khoảng 14,02% (tương đương 72,1 tỷ USD), tăng 1,64 lần so với năm 2020. Quy mô kinh tế số cũng cán mốc 39 tỷ USD với hơn 24,3 triệu người tham gia thương mại điện tử, đạt doanh thu tiêu dùng trực tuyến 13,8 tỷ USD. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số phải chiếm tối thiểu 30% GDP.

Khoảng cách từ 14% lên 30% không đơn thuần là câu chuyện mở rộng quy mô, mà là thách thức về chuyển hóa công nghệ thành năng suất và giá trị gia tăng thực chất.

Tạo sức bật từ thể chế, nguồn lực để kinh tế số bứt phá. Ảnh minh hoạ tư liệu

Tạo sức bật từ thể chế, nguồn lực để kinh tế số bứt phá. Ảnh minh hoạ tư liệu

Trao đổi với phóng viên, về thách thức hiện thực hoá kinh tế số theo Nghị quyết 57-NQ/TW, ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, thách thức trung tâm hiện không còn nằm ở tốc độ tăng trưởng cơ học, mà ở khả năng biến tăng trưởng đó thành giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực tế của cộng đồng doanh nghiệp.

Rào cản lớn nhất hiện nay xuất phát từ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), lực lượng chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp. Dù nhận thức rõ nhu cầu chuyển đổi số để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhiều SMEs vẫn loay hoay vì nghẽn nguồn vốn tín dụng. Việc thiếu hụt tài chính khiến các đơn vị này gặp rào cản lớn khi muốn đầu tư đồng bộ cho máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, hạ tầng an toàn thông tin, tự động hóa hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Sự thiếu hụt này vô hình trung kéo rộng khoảng cách phát triển giữa khu vực doanh nghiệp nhỏ và các tập đoàn lớn.

Phát triển kinh tế số thực chất hơn để tạo ra giá trị gia tăng

Mục tiêu đề ra trong Nghị quyết 57-NQ/TW là quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP năm 2030 và tối thiểu 50% GDP năm 2045 cũng như hiện thực mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2026 - 2030, phát triển kinh tế số thời gian tới cần được đẩy mạnh hơn, thực chất hơn để tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn từ những đổi mới mang tính đột phá.

Tuy nhiên, bài toán không chỉ dừng ở chuyện thiếu vốn đầu tư. Đánh giá về năng lực hấp thụ công nghệ của thị trường, GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam chỉ rõ, nếu doanh nghiệp chỉ mua sắm phần mềm hay trang bị AI nhưng vẫn giữ nguyên mô hình quản trị, quy trình ra quyết định và cách thức vận hành truyền thống thì rất khó tạo ra hiệu quả tương xứng với chi phí bỏ ra. Công nghệ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi kèm với việc tái cấu trúc bộ máy và tư duy quản trị kinh doanh.

Đồng thời với thách thức nêu trên, sự thiếu đồng bộ về hạ tầng dữ liệu cũng đang kìm chân dòng chảy số. Dữ liệu tại nhiều bộ, ngành, địa phương còn phân tán, thiếu kết nối và chia sẻ. Khi các hệ thống giữa doanh nghiệp, ngân hàng, cơ quan quản lý và các đơn vị liên quan chưa liên thông đồng bộ, lợi ích của quá trình số hóa bị thu hẹp đáng kể, buộc từng đơn vị phải tự đầu tư hạ tầng riêng lẻ gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược chỉ ra sự chậm trễ trong hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các lĩnh vực mới như tài sản số, dữ liệu mở và AI. Bên cạnh đó, tình trạng đầu tư công còn bất cập, tâm lý ngại rủi ro trong hoạt động khoa học công nghệ cùng khoảng cách lớn giữa chính sách hỗ trợ và thực thi thực tế đang tạo ra rào cản cho các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.

Kiến tạo thể chế và nguồn lực để tăng trưởng

Hướng tới Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu hỗ trợ tối thiểu 500.000 SMEs chuyển đổi số, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số tầm cỡ quốc tế và đưa vào vận hành 5 sàn giao dịch dữ liệu. Để hiện thực hóa các cột mốc này, việc tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và hỗ trợ doanh nghiệp cần được triển khai một cách đồng bộ, quyết liệt.

Một trong những yêu cầu cấp thiết là đổi mới tư duy xây dựng và thực thi chính sách để theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ. Đại biểu Quốc hội Phan Đức Hiếu - Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhận định, cơ quan làm luật không nên quá sa đà vào việc tìm hiểu bản chất kỹ thuật của công nghệ, mà cần tập trung đánh giá xem công nghệ đó tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế. Thể chế phải tạo không gian cho sự đổi mới thay vì trở thành rào cản ngăn chặn sự sáng tạo; luật pháp chỉ nên quy định khi xuất hiện nguy cơ rủi ro rõ rệt mà khung khổ hiện hành không thể kiểm soát.

Về mặt hạ tầng, dữ liệu cần được coi là tài sản và loại hạ tầng thiết yếu mới của nền kinh tế. TS. Nguyễn Huy Công đề xuất hướng tới hình thành các cơ sở dữ liệu “sạch, sống, thống nhất” cùng nền tảng dùng chung theo nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”, bảo đảm an toàn dữ liệu và an ninh mạng. Việc xây dựng và đưa các sàn giao dịch dữ liệu vào vận hành sẽ giúp minh bạch hóa thị trường, tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, khai thác nguồn tài nguyên này nhằm tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nhằm giải bài toán nguồn vốn cho khối SMEs, các chuyên gia kiến nghị cần mở rộng các kênh vốn dài hạn, phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm và nguồn “vốn kiên nhẫn” để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường. Ông Bùi Quang Cường - Ủy viên BCH Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho rằng, giải pháp căn cơ là thu hẹp khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp lớn và SMEs thông qua việc hỗ trợ ứng dụng AI, đẩy mạnh chuyển đổi số và khai thác thương mại điện tử để tối ưu chi phí vận hành.

Đồng thời, ông Bùi Trung Nghĩa khuyến nghị cần phát huy vai trò dẫn dắt của các tập đoàn công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước trong việc xây dựng hệ sinh thái, khuyến nghị doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý để tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật. Về phía cơ quan quản lý, ông Nguyễn Hoa Cương nhấn mạnh việc sử dụng ngân sách nhà nước phải đạt hiệu quả cao để làm vốn mồi huy động nguồn lực xã hội, luôn đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của chính sách.

Đúc kết về chặng đường phía trước, GS.TS Hoàng Văn Cường khẳng định, thước đo của kinh tế số phải chuyển từ câu hỏi “đã số hóa bao nhiêu” sang “số hóa tạo thêm bao nhiêu giá trị”. Doanh nghiệp chuyển đổi số phải trả lời được các câu hỏi cụ thể: công nghệ giúp tăng năng suất ra sao, mở thêm thị trường nào, giảm được bao nhiêu chi phí và mang lại hiệu quả thực tế gì.

Khi thể chế thông thoáng, dữ liệu được liên thông, hạ tầng dùng chung phát triển và nguồn vốn được tháo gỡ, mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030 mới có thể trở thành động lực tăng trưởng thực chất, đưa nền kinh tế tiến xa trong kỷ nguyên mới.

Cần quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cần quan tâm đến khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dù nhận thức rõ sự cần thiết của chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng và nguồn lực tài chính để đầu tư vào máy móc, phần mềm quản trị, dữ liệu, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và AI.

Ông Bùi Trung Nghĩa cũng chỉ ra, thách thức trung tâm đối với phát triển kinh tế số của Việt Nam không nằm ở tốc độ tăng trưởng mà nằm ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng đó thành giá trị gia tăng, năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Song Linh

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/tao-suc-bat-tu-the-che-nguon-luc-de-kinh-te-so-but-pha-203787-203787.html