Thái Nguyên: Chuyển đổi số từ công tác Đảng đến giáo dục
Thái Nguyên đang chuyển từ số hóa từng quy trình sang đổi mới cách tổ chức, xử lý công việc và khai thác dữ liệu phục vụ điều hành. Trong đó, công tác Đảng và giáo dục là hai lĩnh vực cho thấy khá rõ sự chuyển dịch này: từ đưa công việc lên môi trường số đến từng bước hình thành phương thức làm việc, kết nối thông tin và quản trị dựa trên dữ liệu.
Từ số hóa quy trình đến đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
Chuyển đổi số trong công tác Đảng tại Thái Nguyên đang từng bước làm thay đổi phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, từ cấp tỉnh đến cơ sở. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc đưa văn bản, tài liệu hay các cuộc họp lên môi trường số, mà còn ở sự thay đổi trong cách tổ chức, theo dõi và xử lý công việc.

Đồng chí Nông Thanh Oai, Chi ủy viên xóm Bản Chấu, xã Sảng Mộc,
Hệ thống Điều hành tác nghiệp đã được triển khai tại 129/129 đơn vị cấp xã, với 5.389 người dùng. Đến nay, hệ thống đã hỗ trợ xử lý hơn 921.000 văn bản đến và 106.000 văn bản đi, tạo luồng xử lý văn bản điện tử liên thông từ Trung ương đến cấp xã.
Giá trị lớn hơn không chỉ nằm ở số lượng văn bản được đưa lên môi trường số, mà ở việc quy trình xử lý công việc được tổ chức lại trên nền tảng điện tử. Việc tiếp nhận, xử lý, chuyển giao và ký số có thể thực hiện trên nền tảng Web và Mobile.
Theo báo cáo, thời gian luân chuyển văn bản và chỉ đạo, điều hành được rút ngắn khoảng 70-80%; tiến độ công việc có thể được theo dõi theo thời gian thực. Nếu Hệ thống Điều hành tác nghiệp tạo ra sự thay đổi trong “dòng chảy công việc”, thì Sổ tay Đảng viên mở rộng chuyển đổi số sang “dòng chảy thông tin” giữa tổ chức đảng và đảng viên. Nền tảng đã được triển khai tới 100% đảng viên và chi bộ, với 143.000 đảng viên và 5.145 chi bộ tham gia sử dụng; hệ thống đang quản lý 2.197 văn kiện và ghi nhận 13.582 ý kiến đóng góp của đảng viên.
Cùng với xử lý văn bản điện tử, giải pháp Phòng họp không giấy eCabinet góp phần số hóa quy trình chuẩn bị và tổ chức cuộc họp. Lãnh đạo có thể truy cập tài liệu, điều hành phiên họp, lấy ý kiến, ký số và theo dõi tiến độ thực hiện kết luận sau cuộc họp trên môi trường số. Hiện giải pháp được triển khai tại 129 đơn vị với 5.389 người dùng, trung bình phục vụ khoảng 300 phiên họp mỗi tuần. Theo báo cáo, hệ thống giúp tiết kiệm khoảng 14.400 giờ chuẩn bị tài liệu và khoảng 1,3 tỷ đồng chi phí in ấn mỗi năm.
Từ xử lý văn bản, tổ chức hội họp đến kết nối thông tin với đảng viên, các nền tảng số đang từng bước góp phần hình thành môi trường làm việc số trong các cơ quan Đảng. Giá trị của chuyển đổi số vì thế không chỉ được đo bằng số lượng giấy tờ giảm đi hay thời gian được rút ngắn, mà quan trọng hơn là khả năng chuẩn hóa quy trình, theo dõi tiến độ công việc và tăng tính liên thông trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.
Tuy nhiên, độ phủ của nền tảng mới chỉ là một trong những điều kiện để chuyển đổi số đi vào thực chất. Tại xóm Bản Chấu, xã Sảng Mộc, đồng chí Nông Thanh Oai, Chi ủy viên cho biết một số đồng chí bí thư, phó bí thư và đảng viên lớn tuổi còn gặp khó khăn khi sử dụng điện thoại thông minh; cán bộ trẻ phải trực tiếp hỗ trợ trong quá trình sử dụng nền tảng số. Ở một số khu vực, sóng điện thoại và Internet còn yếu; có thời điểm mất mạng, mất điện ảnh hưởng đến sinh hoạt của chi bộ.

Thượng tá Vũ Hồng Quân, Giám đốc Viettel Thái Nguyên (Chi nhánh thuộc Tập đoàn Viettel).
Thực tế đó cho thấy, chuyển đổi số trong công tác Đảng không chỉ là câu chuyện của nền tảng và thiết bị. Khi chuyển đổi số đi sâu đến từng chi bộ, từng đảng viên, kỹ năng số của người sử dụng, chất lượng hạ tầng và khả năng hỗ trợ ở cơ sở trở thành những yếu tố trực tiếp quyết định hiệu quả.
Ở góc độ đơn vị triển khai, Thượng tá Vũ Hồng Quân, Giám đốc Viettel Thái Nguyên cho biết, quá trình đưa các hệ thống phục vụ công tác Đảng xuống cấp xã phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề, từ thiết bị, tài khoản, chữ ký số đến mạng chuyên dùng và hướng dẫn cán bộ sử dụng. Có những thời điểm lực lượng kỹ thuật phải trực tiếp xuống cơ sở để hoàn thiện hệ thống và hỗ trợ người dùng.
Sau giai đoạn đưa các hoạt động lên môi trường số, yêu cầu tiếp theo là chuyển từ “có nền tảng số” sang khai thác dữ liệu phục vụ điều hành. Trước khi xây dựng các kịch bản điều hành, từng ngành cần xác định rõ mình đang quản lý những cơ sở dữ liệu nào, mức độ số hóa ra sao, dữ liệu đã được chuẩn hóa và lưu trữ như thế nào; từ đó mới có thể kết nối, khai thác và đưa dữ liệu vào phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành.
Đây là bước chuyển quan trọng từ xây dựng nền tảng sang khai thác dữ liệu. Những dữ liệu được hình thành trong thời gian dài, nhất là ở các lĩnh vực có lượng thông tin lớn, cần được rà soát, chuẩn hóa và kết nối trước khi đưa vào các kịch bản điều hành. Theo thông tin từ Viettel Thái Nguyên, từ đầu năm 2026 đơn vị đã phối hợp xây dựng nhiều kịch bản điều hành gắn với hơn 100 cơ sở dữ liệu.

TS. Nguyễn Văn Hưng - Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên chia sẻ về hoạt động CĐS trong lĩnh vực giáo dục của địa phương.
Từ số hóa quản lý đến quản trị bằng dữ liệu
Nếu công tác Đảng cho thấy chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, thì giáo dục là lĩnh vực thể hiện khá rõ vai trò của dữ liệu trong quản trị. Quá trình số hóa đang được triển khai trên quy mô rộng, từ cơ quan quản lý đến nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Phần mềm Quản lý trường học (SMAS) được triển khai tại 643 trường, chiếm khoảng 60% tổng số trường trên địa bàn. Cổng thông tin điện tử Giáo dục (Portal Edu) đã được triển khai tại 894 trường, đạt tỷ lệ 99%.
Cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục hiện quản lý dữ liệu của 1.064 cơ sở giáo dục, khoảng 434.000 học sinh, 34.000 giáo viên và 13.900 lớp học. Dữ liệu được kết nối với Kho dữ liệu dùng chung của tỉnh và Trung tâm Điều hành thông minh, hỗ trợ các cấp quản lý khai thác thông tin, xây dựng báo cáo và theo dõi các chỉ số điều hành.
Điểm quan trọng của quá trình này là dữ liệu bắt đầu được sử dụng như một công cụ quản trị. Thông qua hệ thống tập trung, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình hình hoạt động của các cơ sở giáo dục, nhận diện những vấn đề liên quan đến phân bổ giáo viên, quy mô học sinh hoặc cơ sở vật chất để có phương án điều hành và phân bổ nguồn lực. Thay vì chủ yếu dựa vào các báo cáo tổng hợp theo từng đợt, dữ liệu tập trung tạo thêm cơ sở để nhìn nhận tình hình toàn ngành.
Ở cấp trường học, các nền tảng số hỗ trợ quản lý học sinh, hồ sơ chuyên môn, học bạ điện tử, văn bản điều hành, thanh toán không dùng tiền mặt, điểm danh điện tử và thống kê, phân tích dữ liệu. Theo báo cáo, việc số hóa giúp giảm 80-90% khối lượng công việc thủ công tại nhà trường.

Cô giáo Phạm Thị Thanh Hải, Hiệu trưởng Trường THCS Nha Trang (tỉnh Thái Nguyên).
Với giáo viên, chuyển đổi số giúp giảm áp lực về hồ sơ, sổ sách, chấm điểm và nhập liệu, đồng thời tạo điều kiện tiếp cận kho học liệu số, giáo án điện tử và các công cụ hỗ trợ xây dựng bài giảng. Trong năm 2026, hơn 26.000 giáo viên đã tham gia bồi dưỡng thường xuyên trực tuyến trên nền tảng LMS của Viettel.
Với học sinh và phụ huynh, các nền tảng số mở rộng khả năng tiếp cận học liệu điện tử, học tập trực tuyến và các hình thức học tập cá nhân hóa. Phụ huynh có thể theo dõi kết quả học tập, chuyên cần và những thông tin liên quan đến quá trình học tập của con thông qua Sổ liên lạc điện tử, qua đó tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
Trường THPT Chuyên Thái Nguyên là một trường hợp tiêu biểu. Từ năm 2016, nhà trường đã ứng dụng đồng bộ SMAS 4.0, Cơ sở dữ liệu ngành, Học bạ số, Chữ ký số, Portal Edu, Edoc và Edu.one trong quản lý, chấm điểm, đánh giá học sinh, quản lý hồ sơ, giáo án và kết nối với phụ huynh.
Ở bậc đại học, Đại học Thái Nguyên cũng đang từng bước hình thành hệ sinh thái số gồm hạ tầng và an toàn thông tin, trục tích hợp, kho dữ liệu dùng chung, nền tảng quản lý hành chính TNU-ID, nền tảng sinh viên số S-TNU và ERP. Kho dữ liệu dùng chung bước đầu tích hợp 61 KPI lĩnh vực đào tạo, 32 KPI nhân sự và 9 KPI tài chính - tài sản, cho thấy xu hướng chuyển từ “số hóa từng phần mềm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.

Học sinh tỉnh Thái Nguyên điểm danh qua hệ thống nhận diện khuôn mặt.
Từ nền tảng số đến phương thức làm việc mới
Từ công tác Đảng đến giáo dục, chuyển đổi số tại Thái Nguyên cho thấy công nghệ không còn chỉ được sử dụng để làm nhanh hơn những công việc vốn có, mà đang từng bước thay đổi cách các cơ quan, đơn vị tổ chức công việc, kết nối thông tin và ra quyết định.
Trong công tác Đảng, đó là văn bản được xử lý trên môi trường số, cuộc họp được điều hành không giấy, thông tin được truyền tải và tương tác với đảng viên qua nền tảng số; xa hơn là yêu cầu chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Trong giáo dục, đó là dữ liệu được tập trung, kết nối và khai thác để quản lý nhà trường, phân bổ nguồn lực, hỗ trợ giáo viên và tăng kết nối với phụ huynh, học sinh.
Thực tế ở cơ sở cũng cho thấy chuyển đổi số phải đi cùng con người và điều kiện hạ tầng. Một nền tảng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi cán bộ, đảng viên, giáo viên và người sử dụng có thể tiếp cận và vận hành thuận lợi; dữ liệu chỉ tạo ra giá trị khi được cập nhật, chuẩn hóa, kết nối và đưa vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và ra quyết định.
Vì vậy, bước tiếp theo của chuyển đổi số tại Thái Nguyên không chỉ là mở rộng nền tảng, mà còn là nâng cao chất lượng sử dụng, hoàn thiện hạ tầng và khai thác hiệu quả dữ liệu. Từ những cuộc họp của cấp ủy đến hoạt động quản lý, dạy và học trong nhà trường, chuyển đổi số đang từng bước vượt khỏi phạm vi của một công cụ công nghệ để trở thành một phương thức tổ chức công việc và điều hành mới.
THCS Nha Trang: Hướng tới hệ sinh thái trường học số
Sau khoảng 2 năm từ giai đoạn thí điểm đến triển khai chính thức, Trường THCS Nha Trang (Thái Nguyên) từng bước hình thành hệ thống chuyển đổi số trong quản lý và hoạt động giáo dục. Theo cô Phạm Thị Thanh Hải, Hiệu trưởng nhà trường, thay đổi rõ nhất là công tác quản lý trở nên minh bạch, nhanh chóng và chính xác hơn nhờ dữ liệu được số hóa.
Việc ứng dụng các giải pháp số giúp giảm đáng kể công việc thủ công của cán bộ quản lý và giáo viên. Chẳng hạn, hệ thống camera điểm danh tự động ghi nhận học sinh đến, rời trường và thông báo tới phụ huynh, thay cho việc giáo viên chủ nhiệm phải dành thời gian điểm danh thủ công đầu giờ. Hồ sơ, sổ sách cũng được số hóa, giảm chi phí in ấn và nhu cầu bố trí không gian lưu trữ; việc kiểm tra, tra cứu thông tin có thể thực hiện nhanh chóng trên hệ thống. Học bạ được ký số và gửi dữ liệu lên Cơ sở dữ liệu Học bạ số của Bộ Giáo dục và Đào tạo, qua đó giảm thêm khối lượng công việc thủ công cho giáo viên.
Chuyển đổi số cũng làm thay đổi cách nhà trường phối hợp với phụ huynh. Thông qua ứng dụng Edu.one, phụ huynh có thể theo dõi hoạt động, thời khóa biểu, kết quả và phân tích kết quả học tập của con. Với căng tin thông minh, phụ huynh có thể theo dõi việc sử dụng dịch vụ ăn uống và thông tin truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
Theo cô Phạm Thị Thanh Hải, mục tiêu tiếp theo của nhà trường là xây dựng một “hệ sinh thái trường học số”, trong đó dữ liệu được nhập từ một nguồn nhưng có thể sử dụng cho nhiều hệ thống khác nhau. Chẳng hạn, dữ liệu điểm danh có thể liên thông với hệ thống quản lý nhà trường và cơ sở dữ liệu của tỉnh; thông tin về giáo viên, học sinh, lớp học, thời khóa biểu có thể kết nối với hệ thống học tập trực tuyến. Cách làm này nhằm giảm việc nhập dữ liệu nhiều lần và hướng tới nguồn dữ liệu thống nhất, bảo đảm các yêu cầu “đúng, đủ, sạch và sống”.
Nguồn CAND: https://cand.vn/thai-nguyen-chuyen-doi-so-tu-cong-tac-dang-den-giao-duc-post820276.html


