Thanh âm Việt Nam. Giai điệu cuộc sống:Nơi những người cha hát ru
Ở nhiều ngôi làng biển, hát ru không phải là chuyện riêng của những người mẹ. Người cha ru con khi vợ ra chợ bán cá, người chồng cất tiếng hát giữa chuyến khơi xa. Những câu hát ru mộc mạc đã theo bao thế hệ ngư dân, mang theo tình nghĩa vợ chồng, đạo hiếu và nếp nhà được gìn giữ từ đời này sang đời khác.
Tiếng ru theo người ra biển
Nghệ nhân Ưu tú Lê Thành Lộc ở làng biển Cảnh Dương (xã Hòa Trạch, tỉnh Quảng Trị) kể chuyện đàn ông hát ru từ một việc rất thường ngày. Chồng đi biển về, vợ mang cá ra chợ bán, con nhỏ ở nhà thì cha chăm. Đứa trẻ quấy khóc, người cha bồng bế, cất tiếng dỗ dành. Câu hát cứ theo những lần ru con mà thành quen, gắn với việc hai vợ chồng cùng lo cho mái ấm.

Nghệ nhân Ưu tú Lê Thành Lộc (thứ 4 từ trái sang) tham gia liên hoan các CLB dân gian năm 2025
Người ngoài đến nghe có thể thấy lạ, còn với người làng, chuyện ấy đã có từ bao đời. Đàn ông hát, phụ nữ cũng hát; ông ru cháu, cha ru con, anh ru em. Trong mái nhà làng biển, đứa trẻ lớn lên giữa những giọng ru của người thân. Mỗi người một cách bày tỏ, nhưng đều mang âm điệu quê mình.
Tiếng đệm “hò hẻ hò hè, bôồng bôổng bôông bôông” khiến lời ru Cảnh Dương dễ nhận ra. Giọng hát có độ vang, khi trầm, khi bổng; cách nhấn nhá, luyến láy mang sắc thái tiếng nói của người làng. Có những câu ca dao đã quen ở nhiều miền, qua giọng người Cảnh Dương lại nghe khác. Cái riêng còn ở cách hát, cách đưa tiếng quê vào câu chữ.
Ông Lộc kể, lời ru còn theo người đàn ông xuống thuyền. Những lúc tạm ngơi tay, nỗi nhớ vợ con trở về, họ hát cho bạn thuyền nghe, cũng là để giãi bày lòng mình. Giữa những người cùng chuyến biển, câu hát có khi nói hộ điều chẳng dễ thốt thành lời. Người này cất giọng, người kia hiểu, bởi ai cũng có một mái nhà đang đợi.
Trong lời ru có cả công việc của người ra khơi lẫn nỗi lòng người ở lại. Ông nhắc câu “Trông ra ngoài biển lu bù/ Thấy anh câu đục câu đù em thương”, rồi nói về sự thấu hiểu của người vợ với chồng. Những tên cá, cách đánh bắt đi vào lời hát tự nhiên như trong câu chuyện hằng ngày. Chữ “thương” nằm sau công việc nhọc nhằn, nghe mộc mạc mà da diết.
Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Ngày 10.11.2023, Bộ VHTTDL ban hành Quyết định số 3427/QĐ-BVHTTDL, đưa nghệ thuật trình diễn dân gian Hát ru Cảnh Dương vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Địa bàn di sản khi lập hồ sơ là xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nay thuộc xã Hòa Trạch, tỉnh Quảng Trị.
Đến câu “Chàng ơi đưa gói thiếp mang/ Ô dơi thiếp xách để chàng đi không”, tình cảm lại được bày tỏ bằng cử chỉ chăm chút. Người phụ nữ nhận mang giúp gói đồ, xách hộ chiếc ô, muốn người mình thương đỡ vất vả. Chẳng nói gì lớn lao, câu hát vẫn khiến người nghe cảm được sự nâng niu dành cho nhau.
Rồi lời ru giục: “Chàng về kẻo vợ anh trông/ Kẻo con anh khóc, đèn trông tốn dầu”. Nhớ chồng mà còn tính cả tiền dầu thắp đèn, nghe vừa sốt ruột vừa có duyên. Trong tiếng gọi ấy có con nhỏ đang khóc, có người vợ chờ chồng về cùng lo việc nhà. Chuyện thương nhớ cứ chen với chuyện cơm áo, khiến câu hát gần với cuộc sống của chính người nghe.
Giữ lời hát, giữ tình người
Ông Lộc nói nhiều về tình nghĩa khi giảng giải những câu ru. Với ông, người hát thấy mình trong đó, bởi những điều cha ông gửi gắm vẫn gặp trong đời sống hôm nay. Làm con, làm chồng, làm cha rồi, người ta lại hiểu thêm một câu hát từng nghe thuở nhỏ. Có điều trước kia chỉ nhớ lời, đến khi trải qua mới thấm.
“Ba đồng một khúc cá buôi/ Vẫn mua cho được mà nuôi mẹ chồng” là câu ông dẫn khi nói về đạo hiếu. Tình cảm của nàng dâu dành cho mẹ chồng được đặt vào một việc cụ thể: Mua khúc cá ngon về chăm mẹ. Người già được phụng dưỡng, con cháu cũng có dịp hiểu cách người lớn đối đãi với nhau. Bài học nằm ngay trong bữa ăn, trong việc chăm lo hằng ngày ấy.
Lời ru cũng có những lúc không êm thuận. Ông Lộc nhắc đến câu trách chồng, chuyện vợ chồng chắp nối, cả những giận hờn được người xưa gửi vào lời hát. Có chuyện khó nói, họ mượn câu ru để giãi bày, trách móc mà bớt lời nặng nề, ồn ào. Nghe những câu ấy cần hiểu hoàn cảnh mới nhận ra sau lời trách còn có mong mỏi được cảm thông, được đối xử có tình.
Chính ông cũng đến với hát ru từ những điều gần gũi trong gia đình. Thuở nhỏ, ông nghe mẹ ru, nghe bố kể những câu chuyện quanh lời hát; ông dần yêu văn hóa dân gian rồi mong được trở thành nghệ nhân. Những tiếng quê, chuyện cũ cứ ngấm vào trí nhớ. Sau này, được Nghệ nhân Ưu tú Phạm Ngọc Thức chỉ dạy, ông có thêm cơ hội học hỏi, hiểu sâu hơn vốn dân ca của làng.
Hát ru là nỗi lòng của tình yêu, nó là sợi dây phi vật thể níu kéo tấm chân tình để cuộc sống có thêm trách nhiệm và tốt đẹp hơn.
Nghệ nhân Ưu tú Lê Thành Lộc
Đảm nhận vai trò Chủ nhiệm CLB dân ca Cảnh Dương, ông Lộc tiếp tục sưu tầm, biểu diễn và truyền dạy. Điều ông muốn trao lại còn là ý nghĩa của từng câu hát. Người học phải hiểu người xưa đang thương ai, nhắn điều gì, vì sao lại chọn hình ảnh ấy. Một tiếng địa phương hay một công việc nghề biển nếu không được giảng giải, người trẻ dễ thuộc lời mà chưa hiểu hết.
Công việc ấy cần sự kiên nhẫn. Kể cho con cháu nghe chuyện ông bà từng đi biển, đi chợ, lo bữa cơm gia đình cũng là cách đưa các em đến gần câu hát. Khi hiểu vì sao người vợ nhắc chồng về sớm, vì sao nàng dâu dành khúc cá cho mẹ, người nghe có thể nhận ra câu chuyện của nhà mình. Lời ru bớt xa cách, người học cũng có tình cảm để gửi vào giọng hát.
Câu chuyện với ông Lộc cuối cùng vẫn trở về mái nhà, nơi ông đã nghe mẹ ru và bố kể chuyện từ thuở bé. Những buổi truyền dạy giúp người trẻ biết hát, hiểu lời; còn trong mỗi gia đình, tiếng ru vẫn được giữ gìn qua những lần ông ru cháu, cha ru con.
Từ mái nhà ra biển cả, rồi từ những chuyến khơi xa trở về, lời ru cứ theo người làng Cảnh Dương qua bao thế hệ. Một đứa trẻ hôm nay có thể chưa hiểu hết câu hát của cha, nhưng giọng quê ấy sẽ ở lại trong ký ức, để mai này, giữa một chuyến đi xa, em chợt nhớ nhà và muốn hát.
Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/nghe-thuat/noi-nhung-nguoi-cha-hat-ru-279851.html
