Tháo gỡ 5 điểm nghẽn trong phát triển khoa học công nghệ ngành nông nghiệp

Khoa học công nghệ ngành nông nghiệp đang đối mặt với 5 điểm nghẽn về cơ chế đầu tư, tự chủ công nghệ, liên kết sản xuất, chế biến sâu và quản trị dữ liệu.

Đây là những vấn đề trọng tâm được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chỉ ra tại Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam” diễn ra sáng 2/11, tại Cần Thơ.

Khoa học công nghệ tạo giá trị gia tăng hàng nghìn tỷ đồng

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, trong năm 2025, ngành nông nghiệp tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng đạt 4,02%, xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của nông nghiệp trong bảo đảm an ninh lương thực, tạo việc làm, ổn định đời sống người dân và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

Đáng chú ý, khoa học công nghệ đã góp phần trực tiếp nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị của nhiều ngành hàng chủ lực. Nổi bật, trong lĩnh vực trồng trọt, các giống lúa do Việt Nam chọn tạo chiếm 5/10 giống có diện tích gieo trồng lớn nhất cả nước và 8/10 giống có diện tích lớn nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long. Việc ứng dụng giống lúa mới giúp năng suất tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng thêm ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng.

Đối với cây ngô, giống do Việt Nam chọn tạo chiếm khoảng 40% diện tích, giúp tiết kiệm khoảng 300 tỷ đồng chi phí giống mỗi năm.

Trong lâm nghiệp, đã có 102 giống cây mới được công nhận, nâng tổng số lên 346 giống. Cả nước có hơn 3.200 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống lâm nghiệp; khoảng 90% diện tích trồng rừng tập trung được kiểm soát chất lượng giống.

Lĩnh vực chăn nuôi, thú y có 365 nhà máy thức ăn chăn nuôi với tổng công suất thiết kế trên 31 triệu tấn/năm; 92 cơ sở sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, trong đó có 12 cơ sở chuyên sản xuất vaccine. Một số loại vaccine quan trọng đã được nghiên cứu, sản xuất trong nước, góp phần nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh.

Đối với thủy sản, sản lượng nuôi trồng tăng từ 4,89 triệu tấn năm 2021 lên 6,11 triệu tấn năm 2025, bình quân tăng khoảng 5,2%/năm. Nuôi trồng hiện chiếm khoảng 61,4% tổng sản lượng thủy sản.

Cùng với sản xuất, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản duy trì mức tăng giá trị gia tăng khoảng 7,5-8%/năm. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên trên 30% năm 2025.

Nhận diện 5 điểm nghẽn, đổi mới cách tổ chức nghiên cứu

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, bên cạnh những kết quả tích cực, ngành nông nghiệp vẫn đối mặt với 5 điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng mới.

Trước hết, cơ chế đầu tư và tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ còn nhiều bất cập. Nhiều nhiệm vụ nghiên cứu chưa thực sự gắn với nhu cầu của ngành hàng và doanh nghiệp. Nguồn lực đầu tư còn phân tán, trong khi cơ chế hợp tác công - tư, huy động vốn xã hội và thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa phát huy hiệu quả. Vì vậy, không ít kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng rộng rãi hoặc chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường.

Cùng với đó, năng lực tự chủ công nghệ và nguyên liệu đầu vào còn hạn chế. Mặc dù đã đạt tiến bộ trong chọn tạo giống, sản xuất vaccine và ứng dụng công nghệ sinh học, ngành nông nghiệp vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu một số nguyên liệu quan trọng. Điển hình, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước mới đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu, khiến chi phí sản xuất chịu tác động lớn từ biến động giá cả và thị trường quốc tế.

Một khó khăn khác là sản xuất còn phân tán, liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ gây khó khăn cho cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ và kiểm soát chất lượng. Trong khi đó, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và thị trường chưa chặt chẽ, làm tăng chi phí và hạn chế khả năng phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Ở khâu sau thu hoạch, hạ tầng bảo quản, chế biến sâu và logistics vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Hệ thống kho lạnh, công nghệ bảo quản và chế biến còn hạn chế, khiến nhiều sản phẩm chủ yếu tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô. Bên cạnh đó, phụ phẩm nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Đáng chú ý, chuyển đổi số và quản trị dữ liệu ngành chưa đồng bộ. Dữ liệu về giống, vùng trồng, vùng nuôi, sản lượng, dịch bệnh và thị trường còn phân tán, thiếu kết nối, liên thông. Thực trạng này ảnh hưởng đến khả năng dự báo, điều hành sản xuất, truy xuất nguồn gốc và kết nối cung cầu, nhất là trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và tính minh bạch của sản phẩm.

Từ những điểm nghẽn trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định cần đổi mới phương thức tổ chức nhiệm vụ khoa học công nghệ, chuyển từ nghiên cứu theo từng đề tài riêng lẻ sang giải quyết những bài toán cụ thể của ngành hàng, chuỗi giá trị và địa phương.

Trọng tâm là ưu tiên công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; phát triển giống chất lượng cao, công nghệ sinh học, vaccine, tự động hóa, chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng dữ liệu dùng chung, tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định nhiệm vụ nghiên cứu đến thử nghiệm, tiếp nhận và thương mại hóa sản phẩm, bảo đảm công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn.

"Trong giai đoạn 2027-2030, hiệu quả khoa học công nghệ phải được đánh giá bằng kết quả cụ thể như tăng năng suất, giảm chi phí, giảm tổn thất và phát thải, nâng giá trị gia tăng và khả năng thương mại hóa sản phẩm. Đây là cơ sở để chuyển khoa học công nghệ từ hoạt động nghiên cứu thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững ngành nông nghiệp", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/thao-go-5-diem-nghen-trong-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-nganh-nong-nghiep-119674.html