Tháo gỡ các điểm nghẽn, hướng tới phát triển ngành sữa bền vững
Những năm qua ngành sữa dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng bức tranh toàn cảnh của ngành vẫn cho thấy tồn tại những điểm yếu và hạn chế lớn cần sớm giải quyết.
Ngành sữa Việt Nam hiện đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm an ninh dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời tạo chuỗi liên kết chặt chẽ với các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, chế biến, thương mại và dịch vụ.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, yêu cầu đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm ngày càng trở nên khắt khe.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài, ngành sữa đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm an ninh dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe cộng đồng và tạo chuỗi liên kết chặt chẽ với các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, chế biến, thương mại, dịch vụ. Những năm qua ngành sữa dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng bức tranh toàn cảnh của ngành vẫn cho thấy tồn tại những điểm yếu và hạn chế lớn cần sớm giải quyết. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu sữa tươi trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu sản xuất.
Bên cạnh đó, ngành sữa đang phải đối mặt với áp lực chi phí sản xuất tăng cao, hệ thống logistics chưa tối ưu, sự liên kết chuỗi giá trị còn yếu và năng lực đổi mới công nghệ cũng như sức cạnh tranh toàn ngành chưa đồng đều. Điểm nghẽn lớn nhất và mang tính quyết định đến sự phát triển của toàn ngành hiện nay chính là sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết, sản lượng sữa tươi nội địa hiện mới chỉ đáp ứng khoảng 38 - 40% nhu cầu sản xuất, phần còn lại phải phụ thuộc vào bột sữa nhập khẩu để pha chế thành sữa hoàn nguyên. Việc này không chỉ làm ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của sản phẩm mà còn làm suy yếu chuỗi giá trị chăn nuôi bò sữa trong nước. Theo ông Dương, đến năm 2030, nếu không có chính sách kịp thời và mạnh mẽ, ngành sữa khó đạt được mục tiêu tự túc 60% nguyên liệu. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có khoảng 3,3 con bò sữa trên 1.000 dân, thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên cũng như lực lượng lao động.
Sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong nước còn xuất phát từ thực trạng chăn nuôi và phát triển đàn bò sữa đang có dấu hiệu chững lại. Sau giai đoạn tăng trưởng hai con số (15% giai đoạn 2010 - 2015), tổng đàn bò sữa cả nước gần như giậm chân tại chỗ, chỉ còn tăng bình quân 0,4% mỗi năm từ năm 2020 đến nay. Cả nước hiện có khoảng 350.000 con bò sữa, cung cấp trên 1,3 triệu tấn sữa mỗi năm.
Phân tích về bài toán mở rộng quy mô, đại diện Tập đoàn TH cho biết đơn vị đang sở hữu đàn bò khoảng 80.000 con và có định hướng nâng lên 150.000 con trong những năm tới, nhưng việc mở rộng chăn nuôi tập trung đang vấp phải rào cản lớn về quỹ đất để trồng cỏ và chủ động nguồn thức ăn.
Trong khi đó, ở khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ, ông Tống Xuân Chinh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Sữa Việt Nam, nhận định khu vực chăn nuôi hộ gia đình và hợp tác xã đang gặp nhiều yếu tố bất lợi; nếu thiếu các chính sách hỗ trợ kịp thời về con giống, giải pháp trồng cỏ và chế biến phụ phẩm, khu vực này sẽ rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp sở hữu chuỗi sản xuất khép kín quy mô lớn.
TS. Phùng Quang Trường, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, chia sẻ Ba Vì hiện chiếm khoảng 60% đàn bò sữa của Hà Nội. Dù vậy, giá thu mua sữa tươi vẫn ổn định ở mức 12.000 – 14.000 đồng/kg, trong khi chi phí thức ăn ngày càng tăng cao khiến lợi nhuận của nông hộ bị thu hẹp. Ông Trường chỉ rõ nguồn thức ăn thô xanh phụ thuộc vào mùa vụ, giá thức ăn tinh tăng cao, nhiều hộ chăn nuôi vẫn dựa vào kinh nghiệm mà chưa ứng dụng kỹ thuật mới. Thị trường tiêu thụ sữa phụ thuộc hoàn toàn vào doanh nghiệp thu mua nên nông hộ ít có tiếng nói trong đàm phán giá, dẫn tới nhiều rủi ro kinh tế, cùng với đó là công tác thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được chú trọng đúng mức.
Bên cạnh áp lực về nguyên liệu, dư địa sử dụng sữa của thị trường Việt Nam còn rất lớn nhưng đang gặp rào cản về nhận thức tiêu dùng và thị trường. Mức tiêu thụ sữa bình quân đầu người tại Việt Nam hiện đạt khoảng 24 đến 27 lít/người/năm, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (35 lít), Singapore (45 lít) và các quốc gia châu Âu (80 đến 100 lít).
Nhận thức tiêu dùng của người dân vẫn còn mơ hồ về giá trị dinh dưỡng của sữa tươi, đồng thời thị trường còn thiếu sự phân định rạch ròi giữa sữa tươi và sữa hoàn nguyên. Ngành sữa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và dinh dưỡng, tuy nhiên để phát triển bền vững và đúng định hướng, các vấn đề liên quan cần phải được nghiên cứu, phân tích, nhận định và đánh giá kỹ lưỡng nhằm xây dựng hệ thống giải pháp mang tính tổng thể, khả thi.
Để tháo gỡ triệt để các tồn tại, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành sữa đạt 12% - 14%/năm, sản lượng sữa tươi nguyên liệu đạt 2.600 triệu lít/năm (đáp ứng 60% - 65% nhu cầu), tiêu thụ bình quân đạt 40 lít/người/năm.
Đến năm 2045, sản lượng sữa tươi nguyên liệu đạt 8.000 triệu lít/năm (đáp ứng 80% - 85% nhu cầu), tiêu thụ bình quân đạt 100 lít/người/năm. Để đạt mục tiêu này, ông Nguyễn Xuân Dương đề xuất phát triển song song hai mô hình: chăn nuôi thâm canh công nghệ cao của các tập đoàn lớn và chăn nuôi hộ gia đình chuyên nghiệp quy mô 30 - 50 con nhằm tận dụng tốt lao động nông thôn và phụ phẩm nông nghiệp. Việc đưa nông hộ vào chuỗi liên kết "Doanh nghiệp – Hợp tác xã – Nông hộ" sẽ giúp doanh nghiệp chủ động nguyên liệu tươi sạch, người dân có việc làm, thu nhập ổn định và người tiêu dùng được tiếp cận sản phẩm chất lượng tốt nhất ngay tại thị trường nội địa.
Về phía các giải pháp chính sách và kỹ thuật, các chuyên gia đề xuất Việt Nam cần học tập kinh nghiệm quốc tế như Philippines, Indonesia hay Trung Quốc trong việc quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng sữa tươi nội địa trong chế biến và ban hành các chính sách ưu đãi về vốn, tín dụng, thuế cho đơn vị thu mua sữa nội địa vượt quy định. Về mặt công nghệ, ông Nguyễn Việt Tấn, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương), cho biết cơ quan chức năng đang nghiên cứu sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sữa dạng lỏng, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ chế biến tiên tiến, sản xuất sạch hơn, áp dụng công nghệ số và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Ngô Minh Hải, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TH, chia sẻ TH coi việc đầu tư ngành sữa là đầu tư cho sức khỏe quốc gia với mô hình "từ đồng cỏ xanh đến ly sữa sạch". Tập đoàn TH cũng tiên phong hưởng ứng Chương trình Sữa học đường Quốc gia, đồng thời khẳng định việc thúc đẩy tiêu dùng sữa tươi là giải pháp chiến lược giúp thay đổi thói quen tiêu dùng và tạo thị trường ổn định cho ngành sữa nội địa.
Thời gian tới ngành sữa sẽ cụ thể hóa các mục tiêu thành nhiệm vụ sát thực tiễn, bảo đảm phát triển thị trường đi đôi với kiểm soát chất lượng, minh bạch thông tin và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để ngành sữa Việt Nam vươn tầm bền vững.
