Tháo gỡ điểm nghẽn để vùng kinh tế động lực phía Nam tăng trưởng 2 con số

Các chuyên gia thẳng thắn mổ xẻ những điểm nghẽn cốt tử của vùng kinh tế động lực phía Nam.

Sự chậm chạp của hạ tầng liên kết không còn là câu chuyện của những bản quy hoạch trên giấy, mà đang hiện hữu trong từng chuyến xe hàng, từng container mắc kẹt và từng đồng chi phí doanh nghiệp phải gánh chịu. Theo ông Phạm Văn Xô, Chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu TP.HCM, chi phí logistics của Việt Nam hiện chiếm tới 22 - 25% GDP, một tỷ lệ rất cao, phản ánh rõ những 'điểm nghẽn' kéo dài trong hệ thống vận tải và kết nối hàng hóa.

Từ các thủ phủ công nghiệp đến cụm cảng TP.HCM hay Cái Mép - Thị Vải, tình trạng ùn tắc vẫn diễn ra thường xuyên, làm gia tăng chi phí vận chuyển, kéo dài thời gian giao nhận và bào mòn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt trên thị trường quốc tế.

“Hạ tầng giao thông kết nối giữa các khu công nghiệp với hệ thống cảng biển còn rất nhiều hạn chế. Điều này làm giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh của doanh nghiệp”, ông Xô nhấn mạnh tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam lần thứ II năm 2026 với chủ đề "Vùng kinh tế phía Nam - Động lực cho tăng trưởng hai con số", diễn ra sáng nay 9/6.

Những "điểm nghẽn cốt tử" cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Theo ông Xô, việc hình thành một siêu vùng kinh tế phía Nam là điều cộng đồng doanh nghiệp đã mong đợi từ rất lâu.

“Nếu phía Nam xây dựng được một siêu vùng kinh tế, đó không chỉ là tín hiệu tích cực mà là cơ hội rất lớn đối với doanh nghiệp. Chúng tôi kỳ vọng sẽ sớm được hưởng những lợi ích thiết thực từ sự liên kết này”, ông nói.

Theo ông, lợi ích đầu tiên là sự thông suốt của chuỗi cung ứng và logistics liên vùng. Mỗi địa phương đều sở hữu những lợi thế riêng về công nghiệp, dịch vụ hay hạ tầng. Khi các địa phương được kết nối chặt chẽ, các nguồn lực sẽ được bổ trợ cho nhau, giúp chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả hơn và giảm đáng kể các chi phí phát sinh.

Lợi ích thứ hai là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và chính sách. Hiện nay, mỗi địa phương vẫn áp dụng những quy trình, thủ tục và cơ chế quản lý khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

"Việc liên kết vùng sẽ tạo điều kiện để thống nhất chính sách, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục và giảm chi phí cho doanh nghiệp", ông nói.

Bên cạnh đó, việc mở rộng không gian phát triển giữa TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh sẽ nâng cao sức hấp dẫn của toàn vùng đối với các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI. Theo ông Xô, đây là những yếu tố nền tảng mà cộng đồng doanh nghiệp đang kỳ vọng nhất từ quá trình liên kết vùng.

Trả lời câu hỏi về bài toán chi phí logistics, ông Phạm Văn Xô cho biết, để kéo giảm chi phí này, giải pháp quan trọng nhất là đẩy mạnh đầu tư công vào hệ thống hạ tầng giao thông.

“Chi phí vận chuyển hiện chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí logistics. Vì vậy, việc đầu tư các tuyến cao tốc, đường vành đai, metro, đường sắt và các công trình hạ tầng chiến lược sẽ góp phần giảm mạnh chi phí vận tải cũng như thời gian lưu thông hàng hóa”, ông nhấn mạnh.

Bên cạnh hạ tầng, các doanh nghiệp cũng kỳ vọng các chính sách liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu được đồng bộ hơn giữa các địa phương, đồng thời tăng cường kết nối giữa các trung tâm logistics và hệ thống cảng biển trong vùng.

Ông Xô đặc biệt kiến nghị triển khai cơ chế hải quan điện tử hoạt động 24/7. Theo ông, việc duy trì hệ thống xử lý thủ tục trực tuyến liên tục sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu, rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Ở góc nhìn xa hơn, chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch đã thẳng thắn chỉ ra bản chất vấn đề đang kìm hãm sự phát triển của toàn vùng.

"Chúng ta kỳ vọng một kịch bản tăng trưởng hai con số cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đây là một khát vọng lớn, nhưng để làm được thì phải nhìn vào những 'nút thắt' cốt tử, đặc biệt là thể chế và hạ tầng", ông nhấn mạnh.

Theo ông Lịch, cơ chế phối hợp vùng hiện nay vẫn mang tính chất "hội nghị là chính" chứ chưa có một nhạc trưởng thực quyền. Mỗi địa phương vẫn hoạt động theo kiểu "mạnh ai nấy làm", tỉnh nào cũng muốn có cảng lớn, khu công nghiệp lớn, dẫn đến tình trạng cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau thay vì cộng hưởng sức mạnh.

"Hội đồng vùng hiện nay hoạt động theo kiểu 'gác kinh tế'. Chủ tịch hội đồng vùng không phải là một cấp hành chính, không có ngân sách, không có bộ máy, chỉ phối hợp thì làm sao điều tiết được nguồn lực?", ông Lịch đặt vấn đề.

Từ đó, chuyên gia này khuyến cáo, nếu cứ 'chia khúc', tỉnh nào làm khúc đó, tỉnh nào lo ngân sách tỉnh đó... thì mười năm nữa vẫn cứ bàn câu chuyện giao thông kết nối vùng.

Vì vậy, để giải quyết triệt để, vị chuyên gia kiến nghị Quốc hội và Chính phủ cần trao cho hạt nhân TP.HCM một thẩm quyền và nguồn lực đặc thù thay mặt cho toàn vùng để làm "nhạc trưởng", điều phối các dự án liên tỉnh. Có như vậy, chiếc "áo cơ chế" vốn đã quá chật chội mới được cởi trói.

TP.HCM đang đứng trước cơ hội để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

TP.HCM đang đứng trước cơ hội để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

Không chỉ dừng lại ở câu chuyện liên kết vùng và hạ tầng, bài toán "giữ chân" dòng vốn FDI cũng được các chuyên gia tính tới trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Ông Trần Việt Hà, Phó trưởng ban Ban Quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp TP.HCM (HEPZA) chia sẻ, từ năm 2023, TP.HCM đã phê duyệt đề án định hướng phát triển các KCX - KCN giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến 2045. Mục tiêu xuyên suốt là thí điểm chuyển đổi các khu hiện hữu sang mô hình KCN xanh, sinh thái và công nghệ cao.

Theo ông Hà, chính áp lực từ thị trường đang buộc doanh nghiệp phải thay đổi. Việc đầu tư công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành điều kiện sống còn.

"Nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của những thị trường lớn như châu Âu hay Mỹ, doanh nghiệp sẽ tự đánh mất lợi thế cạnh tranh và bị gạt khỏi cuộc chơi toàn cầu", ông nhấn mạnh.

Đặc biệt, để "lót ổ đón đại bàng" và tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư công nghệ cao, ông Hà cho hay, một trong những trọng tâm của thành phố là đẩy mạnh chuyển đổi số trong cả công tác quản lý lẫn hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Mục tiêu là nâng cao năng suất thông qua ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo vào quy trình quản trị và vận hành sản xuất.

Thành phố cũng ưu tiên thu hút các dự án quy mô lớn, có tính lan tỏa cao nhằm kết nối chuỗi cung ứng, phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp.

Theo ông Hà, để tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn, TP.HCM đang đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó cắt giảm trên 30% thời gian giải quyết thủ tục. Đặc biệt, thành phố đã nhanh chóng triển khai cơ chế đầu tư đặc biệt theo các quy định mới của Luật Đầu tư, áp dụng cho các dự án trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế.

Theo cơ chế này, nhà đầu tư chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư và cam kết tuân thủ các quy chuẩn, quy định pháp luật Việt Nam. Trước khi triển khai dự án, doanh nghiệp gửi thông báo cho Ban Quản lý trước 30 ngày và được miễn nhiều thủ tục tiền kiểm liên quan đến quy hoạch, xây dựng, phòng cháy chữa cháy và các thủ tục hành chính khác.

Cơ quan quản lý nhà nước sẽ chuyển sang cơ chế giám sát trong quá trình thực hiện dự án.

Ông cho rằng đây là một trong những giải pháp đột phá nhằm rút ngắn đáng kể thời gian triển khai dự án, giúp nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải ngân, sớm đưa dự án vào hoạt động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Từ vốn xanh đến liên kết vùng: Hai mắt xích quyết định tăng trưởng

Khi doanh nghiệp đã sẵn sàng chuyển đổi và các rào cản thủ tục dần được tháo gỡ, nút thắt tiếp theo cho mục tiêu tăng trưởng hai con số nằm ở dòng vốn. Bởi lẽ, để số hóa dây chuyền sản xuất, nâng cấp công nghệ và xanh hóa nhà xưởng, cộng đồng doanh nghiệp đang cần một nguồn lực tài chính khổng lồ.

Ông Nguyễn Đức Thái Hân, Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), khẳng định hệ thống ngân hàng không hề thiếu vốn. Ngược lại, nhiều tổ chức tín dụng đang chủ động dành nguồn lực cho tăng trưởng xanh thông qua các gói vay ưu đãi với lãi suất hấp dẫn.

Tuy nhiên, theo ông, giữa dòng vốn và doanh nghiệp vẫn tồn tại những khoảng "vênh" khiến quá trình giải ngân chưa thể diễn ra nhanh như kỳ vọng.

Trước hết là thiếu một bộ chuẩn định danh rõ ràng. Nhiều doanh nghiệp muốn tiếp cận tín dụng xanh nhưng chưa đủ năng lực chứng minh các tiêu chí môi trường, thiếu hồ sơ đánh giá tác động đạt chuẩn hoặc đơn giản là chưa biết phải đáp ứng những yêu cầu nào để được công nhận là một dự án "xanh" trong mắt tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó là sự lệch pha về kỳ hạn vốn. Trong khi các dự án chuyển đổi công nghệ, tiết kiệm năng lượng hay giảm phát thải thường cần thời gian hoàn vốn dài và tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật, nguồn vốn của ngân hàng thương mại lại chủ yếu được huy động trong ngắn hạn. Khoảng cách này khiến cả bên cho vay lẫn bên đi vay đều phải thận trọng.

Để thu hẹp khoảng cách đó, ông Hân kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sớm xây dựng cơ chế tái cấp vốn chuyên biệt cho tín dụng xanh hoặc thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng xanh nhằm chia sẻ rủi ro với hệ thống ngân hàng.

"Về phía ACB, chúng tôi không chỉ cung cấp vốn mà còn chủ động đồng hành cùng doanh nghiệp, cử chuyên gia xuống tận nhà máy để tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ xanh, giúp doanh nghiệp rút ngắn hành trình tiếp cận nguồn vốn ưu đãi", ông Hân khẳng định.

Ở góc nhìn về cải cách, để tránh việc cạnh tranh nội vùng, ông Trần Du Lịch nhấn mạnh, cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương là thực tế tồn tại không chỉ ở Đông Nam Bộ mà ở nhiều vùng kinh tế khác. Tuy nhiên, khi đặt trong bài toán phát triển vùng, vấn đề cốt lõi không nằm ở sự cạnh tranh, mà ở cách quy hoạch và phân bổ chức năng phát triển giữa các địa phương.

Theo đó, quy hoạch vùng phải xác định rõ vai trò và vị trí của từng địa bàn trong chuỗi giá trị sản xuất. Nếu nhìn vào TP.HCM mới, bên cạnh các khu công nghiệp hiện hữu của TP.HCM trước đây còn có hệ thống khu công nghiệp lớn từ Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong những năm tới, mỗi khu vực sẽ được định hình chức năng và đối tượng thu hút đầu tư khác nhau, thay vì cùng chạy theo một mô hình phát triển.

Chẳng hạn, TP.HCM hiện tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, những khâu tạo giá trị gia tăng lớn trong chuỗi sản xuất. Định hướng này không cạnh tranh trực tiếp với các địa phương như Tây Ninh hay Đồng Nai, nơi có thể đảm nhận những phân khúc khác của chuỗi giá trị. Khi chức năng phát triển được xác lập rõ ràng, sự bổ trợ sẽ lớn hơn cạnh tranh.

Từ đó, chuyên gia này cho rằng Đông Nam Bộ cần chuyển từ tư duy xúc tiến đầu tư theo từng địa phương sang xúc tiến đầu tư ở cấp vùng. Thay vì mỗi tỉnh, thành tự tìm cách giữ nhà đầu tư về phía mình, cơ chế điều phối vùng có thể giúp phân bổ dự án đến địa bàn phù hợp nhất với nhu cầu của doanh nghiệp và định hướng phát triển chung. Đây mới là cách tối ưu hóa lợi thế tổng thể của toàn vùng.

Tuy nhiên, điều cần đặc biệt lưu ý là không nên phát triển hạ tầng khu công nghiệp một cách ồ ạt. Việc thu hút quá nhiều nhà đầu tư hạ tầng công nghiệp trong khi sức cầu của thị trường chưa theo kịp sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và tạo ra những hệ lụy dài hạn. Nguy cơ này không chỉ xảy ra ở quy mô vùng mà ngay trong từng địa phương.

“Cạnh tranh nhất định giữa các địa phương là điều khó tránh khỏi. Nhưng điều quan trọng là không xem đó là lợi thế phát triển. Cái gốc vẫn là xác định đúng chức năng của từng địa bàn trong chuỗi giá trị, từ đó tạo ra sự liên kết và bổ trợ thay vì cạnh tranh trực diện”, ông Lịch nhấn mạnh.

Đồng tình, ông Trần Văn Tươi, Phó giám đốc Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh nhận định, mỗi tỉnh, thành phố đều quy hoạch các khu, cụm công nghiệp phù hợp với lợi thế và điều kiện địa lý riêng, từ đó hình thành những định hướng thu hút đầu tư khác nhau.

Theo ông, TP.HCM đã phát triển ở trình độ cao nên ưu tiên các ngành nghề công nghệ, dịch vụ và giá trị gia tăng lớn. Trong khi đó, những địa phương còn nhiều dư địa như Tây Ninh sẽ tiếp nhận các lĩnh vực phù hợp hơn với quỹ đất, vị trí và định hướng phát triển của mình. Ngay cả các dự án đô thị phức hợp gắn với khu vực biên giới cũng là những loại hình mà không phải địa phương nào trong vùng cũng có điều kiện để phát triển.

“Chức năng quy hoạch của từng tỉnh, thành phố thực chất đã được xác lập khá rõ. Vì vậy, sự cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương, nếu có, chỉ diễn ra ở một số trường hợp nhất định”, ông Tươi nhận định.

Theo ông, các nhà đầu tư hiện nay nghiên cứu rất kỹ trước khi đưa ra quyết định. Nếu một dự án không phù hợp với TP.HCM, nhà đầu tư hoàn toàn có thể được giới thiệu sang Tây Ninh, Đồng Nai hoặc địa phương khác trong vùng có điều kiện đáp ứng tốt hơn.

Cách tiếp cận này sẽ giúp nâng cao sức mạnh thu hút đầu tư của toàn Đông Nam Bộ thay vì để từng địa phương tự xúc tiến riêng lẻ như hiện nay. Khi các tỉnh, thành phối hợp quảng bá hình ảnh và lợi thế chung của cả vùng, nguồn lực xúc tiến sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời giúp nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ hơn về hệ sinh thái phát triển của Đông Nam Bộ.

Quốc Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/thao-go-diem-nghen-de-vung-kinh-te-dong-luc-phia-nam-tang-truong-2-con-so-d46326.html