Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, mở đường cho nuôi biển công nghiệp bứt phá
Hiệp hội nuôi biển Việt Nam kiến nghị cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư tiếp tục cải cách thể chế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để khai mở tiềm năng nuôi biển bền vững.

Diễn đàn đối thoại về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường năm 2026. (Ảnh: BTC)
Dù được xác định là một trụ cột quan trọng của kinh tế biển và đã có định hướng phát triển quy mô lớn đến năm 2045, song theo Hiệp hội nuôi biển Việt Nam, ngành nuôi biển công nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về quy hoạch, thủ tục giao khu vực biển, chính sách hỗ trợ, nguồn nhân lực.
Tại Diễn đàn đối thoại về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường năm 2026, diễn ra sáng 18/6, Phó Tổng thư ký Hiệp hội nuôi biển Việt Nam Nguyễn Thị Hồng Nhung kiến nghị cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực này tiếp tục cải cách thể chế, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để khai mở tiềm năng nuôi biển bền vững.
Nhiều “nút thắt” kìm hãm ngành công nghiệp nuôi biển
Nêu ý kiến, bà Nhung cho biết năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1664/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với quan điểm đầu tư phát triển nuôi biển thành ngành sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đóng góp quan trọng về sản lượng, giá trị và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong toàn bộ ngành thủy sản, lấy doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt để đầu tư phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp ở vùng biển xa; kết hợp với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững mạnh.
“Tuy nhiên, trong thực tế, phát triển ngành công nghiệp nuôi biển vẫn đang gặp nhiều khó khăn, ách tắc,” bà Nhung trăn trở.
Chỉ ra một số điểm nghẽn cụ thể, Phó Tổng thư ký Hiệp hội nuôi biển Việt Nam cho biết đầu tiên là thiếu quy hoạch không gian biển chi tiết. Hiện nay đa số các quy hoạch có liên quan đến phát triển nuôi biển đến địa bàn cấp xã phường đều chưa được xây dựng và phê duyệt. “Vì vậy, không có quy hoạch thì không giao được một cách đủ lâu dài các khu vực biển cụ thể cho đầu tư nuôi biển,” bà Nhung nói.
Thứ hai, thủ tục giao khu vực biển còn phức tạp. Mặc dù Nghị định 11/2021/NĐ-CP đã được sửa đổi bằng Nghị định 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 nhưng hiện nay thủ tục giao khu vực biển cụ thể cho các tổ chức, cá nhân nuôi biển vẫn còn rất phức tạp, với mức phí hàng năm rất cao. Đặc biệt, việc ban hành Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025 cũng đang gây ách tắc hơn.
Cụ thể, theo Khoản 10 Điều 24 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, mọi “Dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển” đều thuộc diện dự án phải được chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Quy định này gây cản trở sự phát triển ngành nuôi biển, tăng chi phí cho người dân và xã hội, gây bất bình trong xã hội (nhất là dân ở các đảo đi lại khó khăn, ngư dân, thậm chí nhiều người không biết chữ) phải di chuyển vào bờ xin chủ trương đầu tư với quy trình dày đặc từ Sở Tài chính, đến văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, mới lên chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh.

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Phó Tổng thư ký Hiệp hội nuôi biển Việt Nam phát biểu. (Ảnh: BTC)
Tiếp theo là thiếu tiêu chuẩn và quy chuẩn về nuôi biển. Đến nay, ngành nông nghiệp chưa ban hành được các tiêu chuẩn, quy chuẩn cần thiết cho nuôi biển công nghiệp, nhất là về bảo đảm an toàn cho cơ sở nuôi, an toàn sinh học cho vật nuôi và vùng nuôi, vật liệu an toàn cho môi trường, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển…
Bên cạnh đó, theo bà Nhung, hiện nay cũng chưa có cơ quan đăng kiểm cơ sở nuôi biển (đến nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chưa phân công cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký, đăng kiểm cho cơ sở, phương tiện nuôi biển); chưa có bảo hiểm cho hoạt động nuôi biển; chưa có chính sách hỗ trợ nuôi biển (Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản ban hành năm 2014 chưa có điều khoản hỗ trợ phát triển nuôi biển, nhất là nuôi biển công nghiệp).
Ngoài ra, hiện còn thiếu chương trình và tổ chức đào tạo nhân lực nuôi biển: Hiện nay ở Việt Nam chưa có chương trình đào tạo nhân lực trong nước cho ngành công nghiệp nuôi biển, cả ở trình độ công nhân, trung cấp, cao đẳng, lẫn đại học.
Hoàn thiện chính sách để nuôi biển trở thành động lực tăng trưởng
Trước thực tế trên, bà Nhung nhấn mạnh Hiệp hội nuôi biển Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 65/2025/NĐ-CP, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cấp phép nuôi biển ở địa phương; Nghị định về thế chấp, cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản; Nghị định về phát triển các cụm công nghiệp nuôi biển; Nghị định thay thế Nghị định số 67/2014/NĐ-CP, trong đó có chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp nuôi biển bền vững, quy định rõ những chính sách hỗ trợ sau đầu tư, bảo hiểm, tín dụng và đào tạo nguồn nhân lực.
Bà Nhung cũng đề xuất bộ xây dựng trình Chính phủ về Chương trình phát triển nuôi biển công nghiệp đến năm 2030, theo định hướng phát triển bền vững, với các phương thức công nghiệp, áp dụng công nghệ tiên tiến, theo tiếp cận kinh tế tuần hoàn, chỉ số cacbon thấp, nuôi đa loài; xem xét quyết định giao cho Trung tâm Đăng kiểm Tàu cá trách nhiệm đăng kiểm cho các cơ sở nuôi trên biển, phương tiện nuôi biển, cơ sở phục vụ nuôi trên biển; xây dựng và ban hành các thủ tục đăng kiểm cho các cơ sở nuôi trên biển, phương tiện nuôi biển, cơ sở phục vụ nuôi trên biển.
Hiệp hội nuôi biển cũng kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kiến nghị Quốc hội thay đổi nội dung Khoản 10 Điều 24 Luật Đầu tư 2025 về “Dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao khu vực biển.” Đồng thời ban hành cơ chế phối hợp trong quản lý giữa công nghiệp nuôi biển với các ngành kinh tế biển khác, như du lịch, dầu khí, vận tải biển, khai khoáng, và an ninh - quốc phòng, tránh lãng phí tài nguyên biển.

Ông Dương Văn Cường- Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư phát biểu. (Ảnh: BTC)
Về phía cơ quan quản lý, ông Dương Văn Cường - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khẳng định phát triển nuôi biển là một trong những chính sách rất quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Trong những năm gần đây, lĩnh vực này đã có bước phát triển mạnh mẽ. Cục Thủy sản và Kiểm ngư luôn đồng hành với hiệp hội và doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Liên quan đến các nhóm kiến nghị mà hiệp hội nêu, ông Cường cho biết về thủ tục hành chính, trong đợt cải cách gần đây, một số vướng mắc quan trọng đã được tháo gỡ. Cụ thể, hai thủ tục trước đây do hai cơ quan khác nhau thực hiện (giao khu vực biển và cấp phép nuôi biển) nay đã được tích hợp, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn.
Hiện nay, cơ quan chuyên môn chỉ tham gia góp ý về phương án, phương tiện nuôi, còn thủ tục cấp phép do cơ quan môi trường thực hiện. Những vấn đề còn tồn tại liên quan đến giao khu vực biển sẽ tiếp tục được nghiên cứu, xử lý.
Về phát triển công nghệ cao trong nuôi biển, cục ghi nhận kiến nghị của hiệp hội. Năm 2026 sẽ tiến hành sơ kết 5 năm thực hiện Đề án phát triển nuôi biển theo Quyết định của Thủ tướng ban hành năm 2021. Trong quá trình này, cơ quan quản lý sẽ phối hợp với địa phương và hiệp hội để đánh giá toàn diện, từ đó đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, trong đó có nội dung thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao.
Đối với chính sách bảo hiểm và hỗ trợ, ông Cường cho biết hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định số 67 về chính sách phát triển thủy sản. Dự thảo nghị định sẽ được trình Chính phủ trong thời gian sớm nhất, với nhiều nội dung hỗ trợ thiết thực như: Bảo hiểm tài sản và đối tượng nuôi, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng nuôi biển, sản xuất giống, chuyển đổi vật liệu nuôi thân thiện môi trường, cũng như hỗ trợ đào tạo, tập huấn cho người lao động.
Liên quan đến đăng kiểm, ông Cường cho biết theo quy định hiện hành, tàu phục vụ nuôi biển vẫn phải đăng ký và đăng kiểm. Tuy nhiên, hoạt động này đang được xã hội hóa, không còn do cơ quan Nhà nước trực tiếp thực hiện hoàn toàn.
“Trong thời gian tới, các cơ sở đăng kiểm đủ điều kiện sẽ đảm nhiệm việc này, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp,” ông Cường nói.
Ngoài ra, đối với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, theo ông Cường, hiện đã có 13 tiêu chuẩn cấp Trung ương và 2 tiêu chuẩn cấp địa phương được ban hành. Thời gian tới, bộ sẽ tiếp tục xây dựng thêm các quy chuẩn về nuôi biển, tiêu chuẩn lồng bè, điều kiện môi trường và công nuôi nhằm đảm bảo an toàn và phát triển bền vững./.











