Tháo gỡ khó khăn trong quản lý sầu riêng và phát triển nuôi trồng thủy sản
Trước kiến nghị của các hiệp hội, doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh Lâm Đồng đang rà soát, triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý mã số vùng trồng sầu riêng, tổ chức lại sản xuất thủy sản, phát triển vùng nuôi tập trung và tăng cường liên kết với doanh nghiệp.

Đối với ngành hàng sầu riêng, tỉnh Lâm Đồng đã triển khai các nội dung đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ
Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, địa phương đã tiến hành rà soát, xử lý và đề xuất hướng giải quyết đối với các kiến nghị liên quan đến nguồn lực quản lý ngành hàng sầu riêng ở cấp cơ sở, duy trì vùng nuôi trồng thủy sản và gắn vùng nguyên liệu với chế biến, thị trường.
Tăng cường quản lý mã số vùng trồng sầu riêng
Đối với ngành hàng sầu riêng, tỉnh đã triển khai các nội dung đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ. Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng ban hành các văn bản hướng dẫn quản lý mã số, hoàn thiện hồ sơ phục vụ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Ngành nông nghiệp đang phối hợp với UBND cấp xã rà soát các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số; giám sát việc duy trì điều kiện kỹ thuật, an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật theo yêu cầu của nước nhập khẩu. Việc kiểm tra tính xác thực của sản lượng kê khai cũng được chú trọng nhằm kịp thời phát hiện, xử lý hành vi kê khai không đúng hoặc khai khống sản lượng.
Tuy nhiên, qua rà soát, tỉnh nhận thấy nhân lực chuyên trách về nông nghiệp, quản lý chất lượng và kiểm dịch thực vật ở cấp xã còn thiếu, phần lớn cán bộ phải kiêm nhiệm. Năng lực chuyên môn sâu về quản lý mã số còn hạn chế, trong khi hướng dẫn thống nhất về cơ sở dữ liệu, biểu mẫu và hồ sơ ghi chép chưa đầy đủ, gây khó khăn trong quá trình thực hiện.
Thời gian tới, tỉnh tiếp tục hướng dẫn chuyên môn, tăng cường kiểm tra, giám sát và yêu cầu các địa phương chủ động bố trí, điều động cán bộ. Khi cần thiết, các xã có thể thành lập tổ công tác liên ngành để thực hiện nhiệm vụ. Công tác hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc, ứng dụng nhật ký canh tác điện tử và duy trì trao đổi thông tin giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân cũng sẽ được tăng cường.
Tỉnh đồng thời đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành bộ tiêu chí kiểm tra mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói rõ ràng, có tính định lượng; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia và phân quyền cập nhật, khai thác dữ liệu cho các cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn nghiệp vụ, tập huấn cán bộ cơ sở và xem xét cơ chế phân bổ kinh phí để duy trì công tác giám sát mã số.
Tổ chức lại sản xuất thủy sản theo chuỗi giá trị
Trong lĩnh vực thủy sản, Lâm Đồng đang triển khai các đề án phát triển bền vững ngành thủy sản giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045; phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển và điều chỉnh quy hoạch tỉnh. Địa phương cũng xây dựng đề án tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng thương hiệu cá nước lạnh, đồng thời nghiên cứu khai thác đa mục tiêu hệ thống hồ chứa để phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp du lịch sinh thái.
Năm 2025, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh đạt khoảng 6.694 ha, sản lượng 28.727 tấn. Trong đó, diện tích nuôi nước ngọt khoảng 5.832 ha, sản lượng 20.977 tấn; nuôi mặn, lợ thương phẩm ven biển khoảng 755 ha, sản lượng 5.250 tấn. Nuôi cá nước lạnh có khoảng 55,5 ha nuôi thâm canh và 1.318 lồng trên hồ chứa, với sản lượng khoảng 2.300 tấn.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 21.270,9 tấn, gồm 17.221,1 tấn thủy sản nước ngọt, 3.908 tấn thủy sản mặn, lợ ven biển và 141,8 tấn nuôi biển.
Toàn tỉnh hiện có 149 cơ sở nuôi tôm thẻ chân trắng với 154,58 ha đã chuyển đổi sang công nghệ nuôi hai, ba hoặc bốn giai đoạn. Một cơ sở có diện tích 104 ha đạt các chứng nhận GlobalGAP, BAP và ASC. Hoạt động nuôi biển có 130 hộ với 3.077 lồng tại bảy khu vực; hệ thống sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản có 140 cơ sở.
Dù đạt những kết quả nhất định, sản xuất thủy sản nước ngọt vẫn chủ yếu nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành nhiều vùng nuôi tập trung. Hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước và xử lý nước ở một số khu vực chưa đồng bộ. Người nuôi còn gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ mới, trong khi giá thủy sản biến động, chi phí đầu vào tăng và thời tiết cực đoan làm gia tăng rủi ro sản xuất.
Rà soát quỹ đất, mặt nước và đầu tư hạ tầng
Để tháo gỡ khó khăn, tỉnh sẽ rà soát các khu vực có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản trên đất liền, sông, hồ chứa và biển; ưu tiên những nơi đáp ứng yêu cầu về nguồn nước, môi trường, hạ tầng và kết nối thị trường. Việc tổ chức lại sản xuất sẽ gắn với hình thành vùng nuôi có quy mô phù hợp, khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nuôi, đồng thời tăng cường chuyển giao kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc.
Đối với diện tích đất, mặt nước đã giao hoặc cho thuê nhưng chậm triển khai, không triển khai hoặc sử dụng chưa hiệu quả, tỉnh sẽ rà soát từng trường hợp, đối chiếu hồ sơ pháp lý, hiện trạng sử dụng và quy hoạch để đề xuất xử lý theo quy định.
Tỉnh cũng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp các bộ, ngành hướng dẫn xây dựng, nhân rộng mô hình vùng nuôi tập trung ứng dụng công nghệ cao, sử dụng hiệu quả đất và mặt nước, tiết kiệm năng lượng và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thông qua các giải pháp trên, Lâm Đồng hướng đến khắc phục những hạn chế về nhân lực, hạ tầng và tổ chức sản xuất; tăng cường liên kết chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo điều kiện để các ngành hàng nông nghiệp phát triển ổn định hơn./.

