Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà ở xã hội và nhà chung cư trên địa bàn tỉnh
Chiều 6/4, đồng chí Vũ Việt Văn - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp nghe Sở Xây dựng báo cáo một số nội dung về quản lý nhà ở xã hội, nhà chung cư và giá bán nước sạch của các công ty cấp nước trên địa bàn tỉnh.

Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn kết luận hội nghị.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng, toàn tỉnh hiện có 88 công trình nhà chung cư, nhà tập thể cũ. Trong đó, mới có 17 công trình được kiểm định chất lượng, gồm 12 công trình ở cấp C, D (không đảm bảo an toàn, cần cải tạo hoặc xây dựng lại), 5 công trình cấp A, B cần được bảo trì, sửa chữa định kỳ; có 71 công trình chưa được kiểm định.
Đáng chú ý, hiện có 11 công trình không đảm bảo an toàn đang được UBND tỉnh chỉ đạo xử lý, gồm 6 khối nhà tại khu chung cư Hòa Phong, phường Việt Trì; nhà 8T ở phường Xuân Hòa; 2 khu chung cư của Công ty CP In Phúc Yên và 2 nhà A8, A9 tại khu vực Hòa Bình cũ. Nhiều chung cư được xây dựng từ những năm 1970-1980, đã sử dụng trên 40 năm nhưng không được bảo trì đầy đủ.
Tại khu vực Vĩnh Phúc (cũ), 100% khu chung cư cũ không có quy trình, kế hoạch bảo trì theo quy định. Không ít công trình đã xuất hiện tình trạng nứt, lún, hư hỏng kết cấu, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người dân.
Trước thực trạng trên, Sở Xây dựng đề xuất hoàn thành kiểm định toàn bộ các chung cư cũ trong năm 2026, làm cơ sở phân loại, xử lý. Đối với các công trình cấp C, D cần khẩn trương lập quy hoạch, kế hoạch cải tạo, xây dựng lại; các công trình cấp A, B phải thực hiện bảo trì định kỳ.
Đồng thời, tỉnh xem xét bố trí nguồn vốn, lựa chọn nhà đầu tư để triển khai các dự án cải tạo, tăng cường di dời khẩn cấp người dân khỏi các khu nhà nguy hiểm.

Lãnh đạo Sở Xây dựng báo cáo tại cuộc họp.
Về nội dung kết quả thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư, đồng thời giao chủ đầu tư dự án Khu nhà ở xã hội độc lập cao tầng Thụy Vân (phường Nông Trang), theo báo cáo của Sở Xây dựng, dự án được triển khai trên diện tích khoảng 3,76ha, tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 3.006 tỷ đồng, gồm 3 tòa chung cư cao 21 tầng (có tầng hầm), trong đó có 2 tòa nhà ở xã hội và 1 tòa nhà ở thương mại, với tổng số 2.030 căn hộ (1.570 căn nhà ở xã hội và 460 căn nhà ở thương mại), đáp ứng chỗ ở cho khoảng 8.100 người.
Dự kiến dự án sẽ khởi công từ quý III/2026, hoàn thành phần xây thô vào cuối năm 2028 và hoàn thiện toàn bộ vào quý II/2029. Kết quả thẩm định cho thấy dự án phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của tỉnh; nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về năng lực tài chính với vốn chủ sở hữu gần 800 tỷ đồng và cam kết tín dụng hơn 2.200 tỷ đồng từ ngân hàng.
Tại hội nghị, Sở Xây dựng cũng báo cáo về dự thảo Kế hoạch số 21 ngày 16/1/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm triển khai Chỉ thị số 34 ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới; phương án giá bán nước sạch của các công ty cấp nước trên địa bàn tỉnh.

Lãnh đạo Sở Tài chính phát biểu tại cuộc họp.
Kết luận về những nội dung này, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn yêu cầu Sở Xây dựng cập nhật danh mục quy hoạch dự án nhà ở xã hội đến thời điểm hiện tại, ưu tiên các dự án đã sẵn sàng về hạ tầng giao thông. Giao trách nhiệm cho các địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo tiến độ đề ra.
Về các chung cư cũ trên địa bàn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn yêu cầu các đơn vị chức năng cần phân loại cụ thể các chung cư, khẩn trương hoàn thành kiểm định toàn bộ các chung cư cũ trong năm 2026, bảo đảm đánh giá đúng thực trạng, làm cơ sở đề xuất giải pháp xử lý phù hợp, khả thi.
Đối với dự án nhà ở xã hội Thụy Vân, các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thủ tục, bảo đảm khởi công đúng kế hoạch, đồng thời chú trọng chất lượng công trình, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, đáp ứng nhu cầu ở thực của người dân.
Về giá bán nước sạch của các công ty cấp nước trên địa bàn tỉnh, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Việt Văn nhấn mạnh, việc xây dựng và điều chỉnh giá nước sạch phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; phù hợp khả năng chi trả của người dân, nhất là khu vực nông thôn.
Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm thất thoát, tiết kiệm chi phí sản xuất. Việc xác định các yếu tố chi phí, lợi nhuận cần minh bạch, có căn cứ đầy đủ, tuân thủ khung giá và quy định hiện hành.











