Tháo gỡ những điểm nghẽn để ngành chăn nuôi bứt phá
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ. Nếu tháo gỡ được những điểm nghẽn về quản lý, công nghệ và chuỗi giá trị, lĩnh vực này có thể bước sang giai đoạn phát triển mới với mô hình sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả và gắn với hệ thống chế biến - tiêu thụ hiện đại.

Chăn nuôi quy mô trang trại và công nghiệp tăng nhanh. Ảnh minh họa.
Phát biểu tại Hội nghị Phòng, chống dịch bệnh và Phát triển chăn nuôi bền vững ngày 12/3/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng ngành chăn nuôi đang đứng trước thời cơ lớn nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức cần sớm tháo gỡ.
HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHƯA THEO KỊP QUY MÔ SẢN XUẤT
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi và Thú y, trước đây chăn nuôi nông hộ chiếm khoảng 70% tổng quy mô, nhưng hiện nay tỷ lệ này đang giảm dần, trong khi chăn nuôi quy mô trang trại và công nghiệp tăng nhanh nhờ sự tham gia của các doanh nghiệp lớn.
Quy mô đàn vật nuôi của Việt Nam hiện khá lớn. Cả nước có khoảng 31 triệu con lợn, hơn 500 triệu con gia cầm, khoảng 2 triệu con trâu, hơn 6 triệu con bò và khoảng 2,8 triệu con dê, cừu. Tuy vậy, nếu tính theo bình quân đầu người, sản lượng thịt, trứng và sữa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của một thị trường hơn 100 triệu dân và lượng khách quốc tế lớn mỗi năm.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Chu Khôi.
Một điểm đáng chú ý khác là ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi đã phát triển mạnh, với sản lượng khoảng 22 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, với hơn 65% nguyên liệu thô và trên 90% thức ăn bổ sung phải nhập từ nước ngoài.
Suốt nhiều năm qua, nguy cơ buôn lậu gia súc, gia cầm qua biên giới cũng đang đặt ra nhiều thách thức. Việc vận chuyển trái phép giống và sản phẩm chăn nuôi không chỉ gây thiệt hại cho sản xuất trong nước mà còn tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh. Vì vậy, việc tăng cường quản lý và kiểm soát dịch bệnh sẽ là yếu tố then chốt để bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, dư địa phát triển của ngành vẫn còn rất lớn. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đang tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, cho thấy thị trường chăn nuôi Việt Nam vẫn rất tiềm năng.
Dù quy mô sản xuất ngày càng tăng, nhưng hệ thống quản lý ngành tại nhiều địa phương vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển. Một trong những thách thức lớn hiện nay là hệ thống thú y và chăn nuôi ở cơ sở đang bị thu hẹp cả về tổ chức lẫn nhân lực.
Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nếu thiếu hệ thống cán bộ và bộ máy quản lý ở cơ sở thì rất khó kiểm soát dịch bệnh, quản lý vận chuyển vật nuôi, giết mổ và bảo đảm an toàn thực phẩm.
Thực tế cho thấy tại một số địa phương, các Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã bị sáp nhập hoặc thiếu biên chế, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý. Trong khi đó, chăn nuôi là ngành sản xuất hàng hóa lớn, tốc độ tăng trưởng cao và liên quan trực tiếp đến an ninh thực phẩm.
Bên cạnh đó, hệ thống chính sách và pháp luật vẫn còn tồn tại độ trễ. Một số quy định hiện nay chủ yếu giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt, trong khi khung pháp lý cho giai đoạn phát triển trung hạn 2026–2030 vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính cũng đang được đặt ra mạnh mẽ nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất.
XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI CHĂN NUÔI BỀN VỮNG
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, xử lý môi trường và mô hình kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: "Hệ thống quản lý ngành tại nhiều địa phương vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển". Ảnh: Chu Khôi.
Một hướng đi được đánh giá có thể tạo ra bước đột phá là phát triển công nghiệp sinh học, ứng dụng các kỹ thuật di truyền, công nghệ phôi, vi sinh và công nghệ tế bào để nâng cao chất lượng giống vật nuôi. Ngoài ra, ngành cũng cần đẩy mạnh tự động hóa trong trang trại, từ công nghệ chuồng trại, hệ thống cho ăn tự động đến thiết bị vắt sữa và giám sát đàn vật nuôi bằng dữ liệu số.
Bên cạnh những vấn đề về quản lý và công nghệ, hệ thống giết mổ và chế biến cũng được xem là một trong những “nút thắt” lớn của ngành chăn nuôi. Hiện nay cả nước có khoảng 25.000 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, trong đó phần lớn chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Việc duy trì mô hình giết mổ thủ công kéo dài không chỉ gây khó khăn cho quản lý dịch bệnh mà còn làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm.
Trong khi đó, tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi được chế biến sâu tại Việt Nam vẫn còn thấp, phần lớn vẫn tiêu thụ dưới dạng thịt tươi. Điều này trái ngược với xu hướng tiêu dùng trên thế giới, nơi các sản phẩm chế biến, đông lạnh và tiện lợi ngày càng phổ biến.
Theo các chuyên gia, để phát triển bền vững, ngành chăn nuôi cần hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh gồm Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và các hiệp hội ngành hàng. Trong đó, các hiệp hội đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, góp phần xây dựng chính sách và phát triển chuỗi giá trị.
Chuyển đổi số cũng được xem là công cụ quan trọng để quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thị trường minh bạch. Đồng thời, việc thúc đẩy hợp tác quốc tế sẽ giúp ngành tiếp cận công nghệ mới, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/thao-go-nhung-diem-nghen-de-nganh-chan-nuoi-but-pha.htm











