Thay đổi mạnh mẽ cách tiếp cận văn hóa trong mọi quyết sách phát triển của đất nước

Ngày 13-7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và triển khai nhiệm vụ công tác trong thời gian tới.

Các lễ hội Hà Nội cho thấy bản sắc văn hóa luôn được tôn vinh, coi trọng. Ảnh: Trần Huấn

Các lễ hội Hà Nội cho thấy bản sắc văn hóa luôn được tôn vinh, coi trọng. Ảnh: Trần Huấn

Sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, song cũng đặt ra những yêu cầu mới. Điều đáng ghi nhận là, thay vì bằng lòng với những kết quả bước đầu, Trung ương đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, chỉ rõ các "khoảng trống" và đề ra những chuyển dịch có tính chiến lược nhằm đưa văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển đất nước. Đó chính là tinh thần hành động cần được quán triệt trong toàn hệ thống chính trị.

Từ quyết tâm chính trị đến nền móng của một chiến lược phát triển mới

Nửa năm chưa đủ dài để tạo nên những chuyển biến rõ nét về diện mạo văn hóa, nhưng đủ để nhìn thấy tốc độ và quyết tâm triển khai Nghị quyết số 80 trong toàn hệ thống chính trị. Từ Trung ương đến địa phương, các chương trình hành động được ban hành đồng bộ, nhiều cơ chế, chính sách quan trọng được hoàn thiện, tạo nền tảng pháp lý và tổ chức để từng bước đưa các chủ trương của Đảng vào cuộc sống.

Điều đáng nói hơn là cách tiếp cận đối với văn hóa đã có sự thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây, phát triển văn hóa chủ yếu được xem là nhiệm vụ của ngành văn hóa thì nay đã trở thành trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Một nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi được chuyển hóa thành hành động; cũng như văn hóa chỉ có thể trở thành nguồn lực khi được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.

Những chuyển động ở nhiều địa phương cho thấy tư duy ấy đang từng bước được hiện thực hóa. Không gian sáng tạo, chuyển đổi số di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo hay hạ tầng văn hóa số không còn dừng ở những khái niệm mang tính định hướng mà đã bắt đầu trở thành các chương trình hành động cụ thể. Điều đó khẳng định một nhận thức ngày càng rõ ràng hơn: Đầu tư cho văn hóa không phải là khoản chi tiêu đơn thuần, mà là đầu tư cho năng lực cạnh tranh và sức mạnh phát triển lâu dài của đất nước.

Giá trị lớn nhất sau 6 tháng thực hiện Nghị quyết số 80 không chỉ nằm ở số lượng văn bản đã được ban hành, mà ở sự chuyển dịch trong tư duy phát triển: Văn hóa không còn đứng phía sau để đồng hành với phát triển, mà phải trở thành một trong những lực đẩy của phát triển.

Tuy nhiên, chính vì mục tiêu đặt ra rất lớn nên không thể bằng lòng với những kết quả bước đầu. Khoảng cách từ chủ trương đến thực tiễn, từ di sản đến những sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh, từ tiềm năng đến động lực tăng trưởng vẫn còn khá xa.

Nhìn thẳng vào thực tế ấy không phải để phủ nhận những kết quả đã đạt được, mà để nhận diện đúng những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Bởi điều đất nước cần hôm nay không phải là nhiều kế hoạch hơn, mà là nhiều giá trị mới được tạo ra từ chính kho tàng văn hóa của dân tộc. Đó cũng là lý do việc nhận diện bốn "khoảng trống" của phát triển văn hóa mang ý nghĩa như một lời cảnh báo, đồng thời mở ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn trong tư duy và hành động.

Nhận diện đúng điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực văn hóa

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra bốn "khoảng trống" của phát triển văn hóa lại mang một ý nghĩa sâu sắc hơn. Đó không chỉ là sự nhìn nhận những hạn chế còn tồn tại, mà còn là cách tiếp cận rất thực tiễn đối với một yêu cầu lớn hơn: Đưa văn hóa trở thành động lực phát triển của đất nước.

Thực chất, bốn "khoảng trống" ấy đều gặp nhau ở một điểm - năng lực chuyển hóa còn chưa theo kịp yêu cầu của thời đại. Chúng ta có một kho tàng văn hóa phong phú, nhưng chưa chuyển hóa hiệu quả thành sức mạnh mềm; có nguồn di sản đồ sộ, nhưng chưa tạo thành nguồn dữ liệu và tài sản trí tuệ phục vụ phát triển; có nhiều giá trị đặc sắc, nhưng chưa tạo được nhiều sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc tế; có tiềm năng rất lớn, nhưng hệ sinh thái và thể chế để biến tiềm năng thành nguồn lực tăng trưởng vẫn còn nhiều điểm nghẽn.

Nhìn từ góc độ đó, bốn "khoảng trống" không phải là bốn vấn đề riêng lẻ của ngành văn hóa, mà là bốn mắt xích còn yếu trong chuỗi chuyển hóa từ giá trị văn hóa thành giá trị phát triển.

Điểm nghẽn đầu tiên nằm ở khả năng lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam trên không gian số. Trong kỷ nguyên số, cuộc cạnh tranh giữa các nền văn hóa không còn diễn ra chủ yếu qua những cuộc giao lưu trực tiếp hay các hoạt động quảng bá truyền thống, mà diễn ra từng giờ, từng phút trên các nền tảng số. Thuật toán, dữ liệu và nội dung số đang tác động ngày càng sâu sắc đến nhận thức, thị hiếu và lối sống của xã hội, nhất là thế hệ trẻ.

Điều đáng suy nghĩ là Việt Nam không thiếu những giá trị văn hóa đặc sắc, nhưng lại đang thiếu những sản phẩm đủ hấp dẫn để kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại số. Khi các giá trị của dân tộc chưa hiện diện tương xứng trên những nền tảng có sức lan tỏa lớn nhất, khoảng trống ấy rất dễ bị lấp đầy bởi các giá trị ngoại sinh. Vì vậy, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà trước hết là câu chuyện của năng lực sáng tạo và khả năng truyền tải bản sắc dân tộc bằng những hình thức mới, phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của công chúng hiện đại.

Một điểm nghẽn khác được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh là năng lực chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ. Việt Nam đang sở hữu một kho tàng di sản đồ sộ với hàng chục nghìn di tích, hàng vạn di sản văn hóa phi vật thể và nhiều di sản được UNESCO ghi danh. Đó là lợi thế mà không nhiều quốc gia có được. Nhưng nếu những giá trị ấy vẫn chỉ tồn tại dưới dạng tư liệu lưu trữ hoặc hiện vật trong bảo tàng thì nguồn lực văn hóa vẫn chưa thực sự được đánh thức.

Điểm nghẽn thứ ba là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh. Kho tàng lịch sử, văn học, nghệ thuật và di sản của Việt Nam đủ phong phú để trở thành chất liệu cho điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, xuất bản, trò chơi điện tử hay nhiều ngành công nghiệp sáng tạo khác. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nguồn chất liệu dồi dào với số lượng sản phẩm có sức lan tỏa trong khu vực và quốc tế vẫn còn khá lớn.

Điểm nghẽn cuối cùng cũng là vấn đề có ý nghĩa quyết định, đó là thể chế phát triển công nghiệp văn hóa. Không thể hình thành một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại nếu thiếu môi trường pháp lý minh bạch, thiếu cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thiếu thị trường và thiếu những chính sách đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho sáng tạo. Xây dựng thể chế vì thế không chỉ là hoàn thiện pháp luật, mà là kiến tạo một hệ sinh thái phát triển, trong đó Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, doanh nghiệp là trung tâm sáng tạo và thị trường trở thành động lực phân bổ nguồn lực.

Có thể thấy, cả bốn "khoảng trống" đều dẫn đến một yêu cầu chung là phải nâng cao năng lực chuyển hóa. Chúng ta không thiếu di sản, không thiếu bản sắc, cũng không thiếu khát vọng phát triển. Điều còn thiếu là cơ chế để những giá trị ấy được chuyển hóa thành tri thức, sản phẩm, thương hiệu và sức cạnh tranh. Trong nền kinh tế tri thức, giá trị của văn hóa không còn được đo bằng số lượng di tích hay lễ hội, mà bằng khả năng tạo ra những giá trị mới cho xã hội và đóng góp thực chất vào tăng trưởng.

Thay đổi cách tiếp cận đối với văn hóa trong mọi quyết sách phát triển

Nhận diện đúng những điểm nghẽn ấy không phải để bi quan về thực trạng, mà để xác định đúng hướng đi. Bởi khi nguyên nhân đã được chỉ rõ, điều quan trọng tiếp theo không còn là nhận thức, mà là một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy phát triển. Và đó cũng chính là thông điệp lớn mà Nghị quyết số 80 đặt ra: Muốn văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển, trước hết phải thay đổi cách tiếp cận đối với văn hóa trong mọi quyết sách phát triển của đất nước.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa. Đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam. Thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo. Phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Gần một thế kỷ trôi qua, lời dạy ấy vẫn nguyên giá trị, nhưng trong bối cảnh mới đã mang thêm một nội hàm sâu sắc hơn: Văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của dân tộc.

Trong kỷ nguyên số, gìn giữ văn hóa không thể chỉ dừng ở bảo tồn hay số hóa để lưu trữ, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, trở thành nguồn dữ liệu cho sáng tạo, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo Việt Nam. Khi văn hóa thực sự được chuyển hóa thành sức mạnh mềm và nguồn lực nội sinh, đó sẽ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là động lực quan trọng đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Hà Trang

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/thay-doi-manh-me-cach-tiep-can-van-hoa-trong-moi-quyet-sach-phat-trien-cua-dat-nuoc-1211897.html