Thị trường đang định giá lại rủi ro doanh nghiệp ngành điện?

Nhiều doanh nghiệp ngành điện đang phải đối mặt với thách thức lớn về vốn đầu tư, tiến độ dự án, cơ chế giá điện và rủi ro minh bạch trong quản trị.

Hàng loạt cổ phiếu ngành điện giảm giá trị, bị bán tháo nhiều phiên trong thời gian qua cho thấy thị trường đang có dấu hiệu đánh giá lại rủi ro của các doanh nghiệp lĩnh vực này.

Các cổ phiếu PC1 của Tập đoàn PC1, GEE của Điện lực GELEX, DPG của Đạt Phương hay nhóm tư vấn điện TV1, TV2, TV3, TV3, nhóm sản xuất điện POW của PV Power, PPC của Nhiệt điện Phả Lại cũng chịu áp lực lớn trong thời gian vừa qua. Cổ phiếu HDG của Tập đoàn Hà Đô đã giảm tới hơn 30% trong khoảng ba tháng qua, xuống mức thấp nhất trong hơn hai năm gần đây.

Mặc dù phân tích của các thành viên thị trường cho thấy phản ứng bán tháo cổ phiếu ngành điện trên diện rộng xuất phát từ thông tin khởi tố nhiều bị can là lãnh đạo tại 13 doanh nghiệp và đơn vị liên quan đến vụ án tại dự án đường dây 500kV mạch 3, trong đó có có Tập đoàn PC1 và các công ty tư vấn xây dựng điện TV1, TV2, TV3, TV4.

Điều này khiến nhà đầu tư lựa chọn "bán trước, đánh giá sau" không chỉ với các doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến vụ án mà cả những doanh nghiệp điện khác, khiến áp lực bán lan tỏa và thanh khoản tăng đột biến do đồng thời xuất hiện lực bán tháo và bán giải chấp.

Nhiều cổ phiếu ngành điện bị bán tháo trong phiên 6/7/2026. Ảnh minh họa: VD

Nhiều cổ phiếu ngành điện bị bán tháo trong phiên 6/7/2026. Ảnh minh họa: VD

Tuy vậy, ở một góc độ khác, diễn biến này phản ánh sự thay đổi trong cách nhìn của thị trường đối với nhóm cổ phiếu điện.

Trong nhiều năm, các cổ phiếu ngành điện luôn được coi là nhóm cổ phiếu mang tính phòng thủ cao nhờ dòng tiền ổn định và ít biến động, nhưng đến thời điểm hiện tại, nhóm doanh nghiệp này đang chịu sức ép lớn hơn từ các rủi ro pháp lý, tiến độ dự án, chi phí vốn và khả năng duy trì tăng trưởng dài hạn.

Cần lưu ý rằng, tính chung toàn thị trường, khoảng 68% số cổ phiếu ngành điện được theo dõi đang giảm giá so với đầu năm 2026 phản ánh tâm lý thận trọng ngày càng rõ nét của nhà đầu tư đối với nhóm cổ phiếu từng được xem là “trú ẩn an toàn”. Trong đó, áp lực không chỉ đến từ diễn biến riêng lẻ của từng doanh nghiệp, mà còn xuất phát từ những vấn đề mang tính hệ thống của ngành điện.

Dù bối cảnh triển vọng tiêu thụ điện Việt Nam hiện nay đang rất tích cực và dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh trong nhiều năm tới nhờ sự phát triển của sản xuất công nghiệp, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và xe điện, kéo theo việc giá điện trên thị trường cạnh tranh phục hồi khoảng 13% so với cùng kỳ, theo đánh giá của Công ty chứng khoán MBS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh điện.

Theo tính toán của Công ty vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong 6 tháng cuối năm 2026 có thể đạt 187,5 tỷ kWh (tăng 12,3% so cùng kỳ 2025) và dự kiến cả năm 2026 là 358,6 tỷ kWh, tăng trưởng 11,1% so năm 2025.

Tuy nhiên, triển vọng kinh doanh giữa các doanh nghiệp điện được cho là sẽ có sự phân hóa, phụ thuộc vào sản lượng huy động, giá thị trường điện, điều kiện thủy văn cũng như các yếu tố riêng của từng doanh nghiệp. Trong số nhóm doanh nghiệp do MBS theo dõi công bố và đưa ra dự đoán, có tới phân nửa giảm lợi nhuận so với quý trước và so với cùng kỳ năm 2025 nếu tính lũy kế 6 tháng.

Một trong những nguyên nhân cho việc sụt giảm lợi nhuận là việc xu hướng thời tiết có thể chuyển từ La Ninã sang El Ninõ, qua đó làm suy giảm sản lượng thủy điện và gia tăng nhu cầu huy động nhiệt điện để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng tăng.

Tuy nhiên, việc ngành điện Việt Nam bước vào giai đoạn phải chuyển từ tối ưu chi phí sang ưu tiên an ninh năng lượng, kéo theo chi phí đầu tư và vận hành gia tăng. Giá nhiên liệu, đặc biệt là LNG, cũng chịu ảnh hưởng từ biến động địa chính trị toàn cầu, tạo thêm rủi ro cho lợi nhuận doanh nghiệp.

Cơ hội lớn nhưng cuộc chơi không còn dễ dàng

Một trong những vấn đề mà nhiều doanh nghiệp ngành điện hiện nay đang phải đối mặt là câu chuyện nguy cơ thu hồi giá FIT và thanh tra điện mặt trời. Nếu như giai đoạn 2018-2021 được xem là "thời kỳ vàng" của năng lượng tái tạo nhờ cơ chế giá FIT, thì chu kỳ hiện nay lại đặt doanh nghiệp trước những yêu cầu hoàn toàn khác.

Ngành điện đang bước vào giai đoạn phân hóa mạnh. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

Ngành điện đang bước vào giai đoạn phân hóa mạnh. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

Bắt nguồn từ Thông báo kết luận thanh tra số 3116/TB-TTCP ngày 25/12/2023 của Thanh tra Chính phủ, hàng loạt dự án năng lượng tái tạo phát triển thần tốc trong giai đoạn 2018-2020 (khi cơ chế giá ưu đãi FIT bùng nổ) đã bị đặt dưới lăng kính giám sát nghiêm ngặt của pháp luật về tính hợp lệ trong việc thụ hưởng chính sách, kéo theo nguy cơ rủi ro về tài chính.

Đơn cử như trường hợp của Hà Đô khi hai dự án năng lượng mặt trời trọng điểm của tập đoàn là Nhà máy điện mặt trời Hồng Phong 4 (công suất 48MW, vốn đầu tư 1.100 tỷ đồng tại Bình Thuận) và Điện mặt trời SP Infra1 đang bị rà soát pháp lý. Theo kết luận của cơ quan chức năng, các dự án này đã được công nhận ngày vận hành thương mại (COD) và hưởng giá FIT ưu đãi khi chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu công trình xây dựng hợp lệ từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Kịch bản đặt ra hiện nay ngoài việc bị tước quyền tiếp tục bán điện với giá FIT ưu đãi, Hà Đô còn có nguy cơ bị cơ quan chức năng thu hồi phần chênh lệch giá FIT ưu đãi mà dự án đã thụ hưởng trái quy định trong nhiều năm qua, thông qua hình thức bù trừ trực tiếp vào các khoản thanh toán tiền mua điện trong tương lai.

Hậu quả tài chính của bản án hành chính này lập tức hiển hiện trên báo cáo tài chính quý I/2026 của Tập đoàn Hà Đô, dù doanh thu thuần quý I/2026 vẫn tăng 14,25% (đạt 683,9 tỷ đồng), doanh nghiệp đã phải mạnh tay trích lập chi phí dự phòng ngắn hạn phải trả liên quan đến rủi ro này.

Trong danh sách do Bộ Công thương công bố hồi tháng 4/2026, có tới 167 dự án điện mặt trời bị kiến nghị rà soát lại về giá FIT, trong đó có không ít dự án của các ông lớn ngành điện. Việc chấm dứt cơ chế giá ưu đãi đồng nghĩa các dự án điện gió, điện mặt trời mới phải cạnh tranh thông qua đấu thầu hoặc các cơ chế mua bán điện mới. Lợi thế không còn thuộc về doanh nghiệp sở hữu nhiều dự án, mà chuyển sang những đơn vị có năng lực phát triển dự án, kiểm soát chi phí và thu xếp nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý.

Điều này khiến bức tranh ngành điện phân hóa rõ rệt hơn. Được biết, cuối tháng 6/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 243/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định của hai nghị định 57 về cơ chế mua bán điện trực tiếp - DPPA và Nghị định 58 về phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ.

Những sửa đổi này không chỉ tháo gỡ các rào cản đối với điện mặt trời mái nhà và DPPA, mà còn đánh dấu bước chuyển đáng chú ý trong tư duy chính sách - từ kiểm soát bằng các giới hạn hành chính, sang khai thác hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo trên cơ sở bảo đảm an toàn vận hành hệ thống điện.

Đồng thời, đây được xem là một bước đi quan trọng trong lộ trình hiện thực hóa Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và thị trường điện cạnh tranh.

Tuy nhiên, lưu ý rằng đây mới chỉ là khởi đâu, bởi hiện nay cơ chế thanh toán, phân bổ chi phí truyền tải cũng như khả năng huy động vốn cho các dự án vẫn cần thời gian để hoàn thiện. Vì vậy, trong ngắn hạn, chính sách này khó có thể ngay lập tức cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Nhìn ở góc độ dài hạn hơn, cũng theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam cần hơn 136 tỷ USD đầu tư cho nguồn điện và lưới truyền tải chỉ trong giai đoạn 2026-2030. Đây là quy mô đầu tư chưa từng có, nhưng cũng đặt ra bài toán rất lớn về huy động vốn.

Đối với các doanh nghiệp ngành điện, đây là áp lực không nhỏ khi nhiều đơn vị đã sử dụng đòn bẩy tài chính cao trong giai đoạn phát triển trước đó. Trong bối cảnh các tổ chức tín dụng ngày càng thận trọng hơn với các dự án năng lượng, việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn sẽ trở nên khó khăn hơn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có bảng cân đối tài chính yếu.

Mở rộng ở góc độ dài hạn, cũng theo Quy hoạch điện VIII đã điều chỉnh đặt ra nhu cầu vốn rất lớn cho ngành điện, với hơn 136 tỷ USD đầu tư cho nguồn điện và lưới truyền tải trong giai đoạn 2026-2030. Đây là cơ hội tăng trưởng dài hạn, nhưng đồng thời cũng là phép thử lớn đối với năng lực tài chính của các doanh nghiệp trong ngành.

Áp lực nằm ở chỗ, nhiều doanh nghiệp điện đã sử dụng đòn bẩy cao trong chu kỳ phát triển năng lượng tái tạo trước đó, trong khi dòng tiền hiện nay lại chịu tác động từ cơ chế giá, rủi ro rà soát FIT và chi phí vốn chưa hạ rõ rệt.

Khi các ngân hàng và tổ chức tín dụng ngày càng thận trọng hơn với dự án năng lượng, khả năng thu xếp vốn dài hạn sẽ trở thành yếu tố phân hóa quan trọng. Doanh nghiệp nào có bảng cân đối lành mạnh, dòng tiền ổn định và năng lực triển khai dự án tốt sẽ có lợi thế; ngược lại, những đơn vị nợ vay cao hoặc còn vướng pháp lý sẽ đối mặt với áp lực lớn hơn trong cuộc đua đầu tư theo Quy hoạch điện VIII.

Việt Dương

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/thi-truong-dang-dinh-gia-lai-rui-ro-doanh-nghiep-nganh-dien-d46739.html