Thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc định giá kết quả nghiên cứu công nghệ
Giá trị của một kết quả nghiên cứu khoa học chính là mức giá mà thị trường sẵn sàng trả và người bán đồng ý giao dịch…
Đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường không chỉ đòi hỏi năng lực công nghệ và sự quan tâm của doanh nghiệp, mà còn cần cơ chế phù hợp để định giá, chuyển giao và khai thác tài sản trí tuệ.
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, dù cơ chế, thể chế và quyền tự quyết đã được mở rộng, việc cụ thể hóa các quy định vẫn cần được đẩy nhanh.
ĐỀ TÀI ĐƯỢC CẤP 5 TỶ ĐỒNG CÓ THỂ MANG LẠI 40 TỶ, CŨNG CÓ THỂ CHỈ 2 TỶ ĐỒNG
Vướng mắc lớn hiện nay nằm ở việc định giá công nghệ và kết quả nghiên cứu, đặc biệt khi liên quan đến tài sản công. Hành lang pháp lý chung đã có, nhưng thiếu những trường hợp thực tiễn điển hình để các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp tham chiếu. Điều này khiến các bên dù có nhu cầu hợp tác vẫn lúng túng khi triển khai.
“Nhà nước cần sớm ban hành hướng dẫn chi tiết, đồng thời đẩy mạnh các chương trình thử nghiệm thực tế (sandbox), trong đó làm rõ quy trình thực hiện, cơ chế phân định trách nhiệm và phương pháp định giá”, PGS.TS Nguyễn Minh Tân chia sẻ tại Hội thảo về điểm nghẽn và cơ hội thành công trong thương mại hóa công nghệ sinh học gần đây.
Theo chuyên gia, giá trị kết quả nghiên cứu không thể được xác định cứng nhắc dựa trên kinh phí đã đầu tư. Một đề tài được cấp 5 tỷ đồng không có nghĩa kết quả phải được định giá tương đương hoặc cao hơn số tiền đó. Khi thương mại hóa, công nghệ có thể mang lại 40 tỷ đồng, nhưng cũng có thể chỉ thu về 2 tỷ đồng.
PGS.TS Nguyễn Minh Tân đã chia sẻ quan điểm của một giáo sư giảng dạy về đổi mới sáng tạo tại Mỹ: “Giá trị của một kết quả nghiên cứu khoa học chính là mức giá mà thị trường sẵn sàng trả và người bán đồng ý giao dịch”.
Chẳng hạn, một công nghệ được kỳ vọng có giá trị 10 tỷ đồng nhưng nhà đầu tư chỉ sẵn sàng trả 2 tỷ đồng và bên sở hữu chấp nhận giao dịch, thì 2 tỷ đồng là giá giao dịch thực tế. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, thị trường cần đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị công nghệ, thay vì áp dụng một công thức cứng nhắc.
SÁNG CHẾ CẦN THỜI GIAN ĐỂ TẠO RA GIÁ TRỊ
Bên cạnh định giá, thời gian đưa sáng chế ra thị trường cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thương mại hóa và quyền lợi của nhà khoa học. Ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS), cho biết có những sáng chế phải đến năm thứ 15 trong thời hạn bảo hộ mới bắt đầu được thị trường quan tâm, khi nhu cầu sử dụng hình thành và doanh nghiệp đặt vấn đề thương mại hóa. Thậm chí, một số sản phẩm chỉ tạo ra nguồn thu cho nhà khoa học trong hai năm cuối của thời hạn bảo hộ.

Robot biểu diễn tại một triển lãm về robot ở Hà Nội vừa qua. Ảnh: B.B
Những trường hợp này cho thấy có khoảng cách đáng kể giữa thời điểm hoàn thành nghiên cứu và thời điểm công nghệ có thể tạo ra doanh thu. Theo ông Nghĩa, quá trình thương mại hóa cần thời gian, sự kiên trì và cơ chế hỗ trợ phù hợp.
“Thời hạn bảo hộ sáng chế về cơ bản là 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Khi công nghệ mất nhiều năm mới được thị trường đón nhận, thời gian còn lại để khai thác sáng chế có thể bị thu hẹp, ảnh hưởng đến khả năng tạo doanh thu từ kết quả nghiên cứu”, ông Bùi Duy Nghĩa nói.
Theo ông Nghĩa, những thay đổi trong chính sách, đặc biệt là quy định liên quan đến quyền lợi của tác giả sáng chế khi sản phẩm được thương mại hóa, có thể tạo thêm động lực cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo. Cơ chế hưởng từ 20-30% giá trị thương mại hóa sẽ góp phần khuyến khích các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, đóng góp cho khoa học và công nghệ Việt Nam.
Để thúc đẩy quá trình này, bên cạnh quyền lợi từ thương mại hóa, việc tăng cường kết nối giữa nhà khoa học và doanh nghiệp cũng rất quan trọng. Doanh nghiệp cần có cơ sở để tiếp nhận, đầu tư phát triển công nghệ; trong khi các viện nghiên cứu, trường đại học cần điều kiện thuận lợi hơn để đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tế.
THỂ CHẾ MỞ RA KỲ VỌNG PHÁT TRIỂN TRONG 3-5 NĂM TỚI
Dù còn những vướng mắc trong định giá và chuyển giao công nghệ, các nhà khoa học đánh giá những thay đổi về thể chế đang tạo cơ hội mới cho công nghệ sinh học Việt Nam. PGS.TS Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng khó khăn lớn nhất trước đây là thể chế, nhưng nay đã dần được “cởi trói”. Và điều quan trọng là doanh nghiệp đã chủ động tìm đến nhà khoa học, tạo cơ hội để các kết quả nghiên cứu được đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp tăng cường niềm tin vào năng lực nghiên cứu trong nước.
“Tôi tin rằng trong vòng 3 đến 5 năm tới, tính từ mốc năm 2026, công nghệ sinh học sẽ phát triển vượt bậc so với bây giờ”, PGS.TS Phí Quyết Tiến nhận định.
Ở góc độ tiềm năng phát triển, ông Bùi Duy Nghĩa cho rằng Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, là một lợi thế quan trọng đối với công nghệ sinh học. Theo đánh giá của ông, trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực này, chỉ sau Singapore.
Ông cũng kỳ vọng trong khoảng 2-3 năm tới, công nghệ sinh học và công nghiệp sinh học Việt Nam sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn nhờ các động lực từ chính sách và quyền lợi thương mại hóa.
“Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số sâu rộng, bức tranh nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đang ghi nhận những chuyển biến tích cực. Không còn dừng lại ở các đề tài cất tủ kính, lực lượng trí thức và các nhà khoa học Việt Nam đã và đang nỗ lực đưa tri thức tiệm cận sát hơn với nhu cầu thực tiễn của thị trường”, ông Bùi Duy Nghĩa nói.
Giá trị kết quả nghiên cứu không thể được xác định cứng nhắc dựa trên kinh phí đã đầu tư. Một đề tài được cấp 5 tỷ đồng không có nghĩa kết quả phải được định giá tương đương hoặc cao hơn số tiền đó. Khi thương mại hóa, công nghệ có thể mang lại 40 tỷ đồng, nhưng cũng có thể chỉ thu về 2 tỷ đồng.
