Thị trường Halal mở dư địa tăng trưởng mới cho doanh nghiệp Việt

Halal là thị trường tiềm năng, là động lực để doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, minh bạch và bền vững, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thịt bò của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Pacow International được đánh giá cao tại thị trường Halal nhờ đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn về vệ sinh, quy trình giết mổ và sự minh bạch trong chuỗi cung ứng. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

Thịt bò của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Pacow International được đánh giá cao tại thị trường Halal nhờ đáp ứng nghiêm ngặt tiêu chuẩn về vệ sinh, quy trình giết mổ và sự minh bạch trong chuỗi cung ứng. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng từ các thị trường truyền thống dần thu hẹp, việc tìm kiếm những không gian phát triển mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam.

Thị trường Halal với quy mô hàng nghìn tỷ USD và gần 2 tỷ người tiêu dùng được đánh giá là một trong những dư địa tăng trưởng giàu tiềm năng nhất hiện nay.

Không chỉ mở ra cơ hội xuất khẩu mới, Halal còn tạo động lực để doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, minh bạch và bền vững, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhiều năm qua, không ít doanh nghiệp vẫn xem Halal là thị trường dành riêng cho cộng đồng Hồi giáo với những yêu cầu mang tính tôn giáo đặc thù. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Halal ngày nay đã vượt xa phạm vi của một chứng nhận tôn giáo để trở thành hệ tiêu chuẩn gắn với chất lượng, tính minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội.

Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), quy mô nền kinh tế Halal toàn cầu hiện đạt khoảng 2.500 - 3.000 tỷ USD mỗi năm và được dự báo có thể tăng lên khoảng 10.000 tỷ USD vào năm 2028. Đáng chú ý, Halal không còn giới hạn trong lĩnh vực thực phẩm mà đang mở rộng sang mỹ phẩm, dược phẩm, thời trang, logistics, tài chính, du lịch và nhiều ngành dịch vụ khác.

Sức hấp dẫn của thị trường này không chỉ đến từ gần 2 tỷ người Hồi giáo trên thế giới. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và đạo đức kinh doanh, các sản phẩm đạt chuẩn Halal đang trở thành lựa chọn của cả những người không theo đạo Hồi.

Bánh tráng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Nhiên đã có chứng nhận Halal JAKIM, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn của luật Hồi giáo Shariah về nguyên liệu, quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

Bánh tráng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Nhiên đã có chứng nhận Halal JAKIM, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn của luật Hồi giáo Shariah về nguyên liệu, quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

Ông Imam Abbas Mieu, Chủ tịch Halal Việt Nam nhấn mạnh: Halal ngày nay là biểu tượng của tính minh bạch, đạo đức trong chuỗi cung ứng và niềm tin quốc tế. Ngay cả người tiêu dùng không theo đạo Hồi cũng coi sản phẩm Halal là dấu hiệu của sự an toàn và đáng tin cậy. Điều đó đang mở rộng đáng kể phạm vi ảnh hưởng của nền kinh tế Halal trên toàn cầu.

Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng cơ hội lớn nhất mà Halal mang lại cho Việt Nam không chỉ nằm ở giá trị xuất khẩu mà còn ở khả năng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất theo các chuẩn mực quốc tế mới.

Những yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, quản trị minh bạch, sản xuất xanh và trách nhiệm xã hội vốn đang trở thành xu hướng chung của thương mại toàn cầu lại chính là các tiêu chuẩn cốt lõi của hệ sinh thái Halal.

Nhìn từ góc độ thị trường, Halal mở ra dư địa đặc biệt lớn cho Việt Nam. Khu vực Trung Đông hiện chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Halal toàn cầu nhưng lại phụ thuộc tới 85-90% nhu cầu lương thực, thực phẩm vào nhập khẩu. Đây là cơ hội đáng kể đối với các quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp và chế biến thực phẩm như Việt Nam.

Từ gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu đến thủy sản, rau quả chế biến và thực phẩm đóng gói, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng tại các thị trường Hồi giáo. Thực tế quốc tế cũng cho thấy những quốc gia không phải Hồi giáo như Australia, Canada hay Brazil vẫn nằm trong nhóm xuất khẩu sản phẩm Halal lớn nhất thế giới.

Điều này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu sản phẩm Halal có uy tín nếu xây dựng được chiến lược phát triển phù hợp.

Bên cạnh lợi thế về sản xuất, Việt Nam còn được đánh giá có vị thế thuận lợi để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị Halal toàn cầu. Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, không có xung đột văn hóa với các quốc gia Hồi giáo và sở hữu nền tảng sản xuất, xuất khẩu khá vững chắc. Đặc biệt, Việt Nam có thể trở thành điểm kết nối giữa năng lực sản xuất của ASEAN với các thị trường tiêu thụ Halal lớn tại Trung Đông.

Tuy nhiên, tiềm năng lớn không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam có thể dễ dàng khai thác thị trường này. Thực tế cho thấy một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở năng lực tổ chức hệ sinh thái Halal trong nước.

Theo các chuyên gia, nhiều doanh nghiệp vẫn xem Halal đơn thuần là một chứng nhận hoặc một dòng thông tin trên bao bì sản phẩm. Trong khi đó, bản chất của Halal là một hệ thống tiêu chuẩn toàn diện bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến logistics và phân phối.

Một thách thức khác là Việt Nam chưa hình thành được chuỗi giá trị Halal hoàn chỉnh. Các khâu từ vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến logistics, kho bãi và hệ thống chứng nhận vẫn còn phân tán, thiếu liên kết. Điều này khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn Halal quốc tế cũng như nâng cao khả năng được công nhận tại các thị trường Hồi giáo lớn.

Bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC) cho hay, hiện chỉ khoảng 0,2% doanh nghiệp Việt Nam có sản phẩm đạt chứng nhận Halal. Con số này phản ánh khoảng cách rất lớn giữa tiềm năng thị trường và khả năng khai thác thực tế của doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, thế giới hiện chưa có một hệ thống chứng nhận Halal thống nhất.

Mỗi quốc gia đều có những tiêu chuẩn, cơ chế quản lý và quy trình kiểm định riêng đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ từng thị trường để xây dựng chiến lược tiếp cận phù hợp.

Dù vậy, những tín hiệu tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế tại các thị trường Halal khó tính. Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV Mỹ Phương Food tại Đà Nẵng là một trong những ví dụ tiêu biểu.

Sau nhiều năm duy trì và tái đánh giá chứng nhận Halal, doanh nghiệp này đã xuất khẩu thành công sang Malaysia và Israel, đồng thời mở rộng tìm kiếm cơ hội tại Saudi Arabia, Dubai, Ai Cập và Ấn Độ.

Theo bà Mai Thị Ý Nhi, Giám đốc Trách nhiệm hữu hạn MTV Mỹ Phương Food, lợi thế của doanh nghiệp nằm ở nguồn nguyên liệu tự nhiên, quy trình sản xuất sạch và khả năng đáp ứng gần như trọn vẹn các yêu cầu của hệ thống tiêu chuẩn Halal. Thành công của Mỹ Phương Food cho thấy Halal không phải sân chơi chỉ dành cho các tập đoàn lớn mà ngay cả doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có thể tham gia nếu có chiến lược đầu tư bài bản và kiên trì.

Các gian hàng thực phẩm tại Triển lãm Halal Quốc tế 2023 của Malaysia. (Ảnh: Hằng Linh/TTXVN)

Các gian hàng thực phẩm tại Triển lãm Halal Quốc tế 2023 của Malaysia. (Ảnh: Hằng Linh/TTXVN)

Từ thực tiễn đó, bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, không xem Halal là thị trường phụ hay chỉ tìm đến khi có đơn hàng. Chi phí chuyển đổi ban đầu có thể tăng do phải điều chỉnh quy trình sản xuất, kiểm soát nguyên liệu và đầu tư hệ thống quản lý. Tuy nhiên, đây thực chất là khoản đầu tư để mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm và xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp phải coi việc đáp ứng tiêu chuẩn Halal như một phần trong chiến lược phát triển bền vững, gắn với nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và khả năng hội nhập quốc tế.

Ở góc độ rộng hơn, câu chuyện Halal không còn là vấn đề riêng của doanh nghiệp mà cần được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia. Theo ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương), nếu tận dụng hiệu quả dư địa của thị trường Halal toàn cầu, Việt Nam không chỉ mở rộng được thị trường xuất khẩu mà còn tạo thêm động lực tăng trưởng cho các ngành sản xuất, chế biến, logistics và dịch vụ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển thị trường và sản phẩm Halal. Trọng tâm không chỉ là hỗ trợ doanh nghiệp đạt chứng nhận mà còn phải hình thành một hệ sinh thái Halal đồng bộ gồm thể chế chính sách, logistics, xúc tiến thương mại, đào tạo nhân lực và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Cùng đó, đẩy mạnh đàm phán với các đối tác quốc tế nhằm tăng cường công nhận lẫn nhau về chứng nhận Halal, giúp giảm chi phí và thời gian tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, sự ra đời của Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HALALVIET được kỳ vọng trở thành nền tảng kết nối doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức chứng nhận và đối tác quốc tế, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng Halal toàn cầu.

Về lâu dài, giá trị lớn nhất mà Halal mang lại không chỉ là cơ hội tiếp cận thị trường hàng nghìn tỷ USD mà còn là cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc chuỗi cung ứng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên tiêu chuẩn cao về minh bạch, bền vững và trách nhiệm xã hội.

Khi đáp ứng được những chuẩn mực đó, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mở rộng cánh cửa vào thị trường Halal mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu./.

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/thi-truong-halal-mo-du-dia-tang-truong-moi-cho-doanh-nghiep-viet-post1114306.vnp