Thiên tai khốc liệt hơn, thiệt hại tại Việt Nam ngày càng lớn
Biến đổi khí hậu đang khiến thiên tai tại Việt Nam ngày càng khốc liệt, khó lường, với nhiều kỷ lục liên tiếp bị xô đổ, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Thiên tai cực đoan gia tăng
Tại hội thảo “Ứng phó thiên tai cực đoan trong kỷ nguyên biến đổi khí hậu” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sáng 18/3, TS Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (Cục Khí tượng thủy văn, Bộ NN&MT), cho biết xu thế nóng lên toàn cầu đang diễn ra nhanh hơn dự báo.
Giai đoạn 2015-2025 ghi nhận 11 năm nóng nhất trong hơn 175 năm quan trắc, kỷ lục là năm 2024.

Thiên tai cực đoan gây thiệt hại lớn tại Việt Nam. Ảnh: Hà Cương.
Nền nhiệt gia tăng kéo theo các hiện tượng thời tiết cực đoan tăng cả về tần suất và cường độ, tác động rõ rệt đến Việt Nam. Những năm gần đây, thiên tai diễn biến bất thường, từ hạn hán, xâm nhập mặn ở Nam Bộ đến các đợt mưa lũ lịch sử tại miền Trung năm 2025, gây thiệt hại lớn.
Năm 2024, một cơn bão được đánh giá là mạnh nhất trong khoảng 30 năm gần đây đã đổ bộ Bắc Bộ, gây mưa lớn trên diện rộng, có nơi cao gấp 4–6 lần trung bình nhiều năm, kéo theo lũ lớn và sạt lở nghiêm trọng.
Năm 2025 tiếp tục xuất hiện nhiều kỷ lục với 27 cơn bão trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương; 10 cơn bão và 6 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông; lượng mưa ngày có nơi lên tới 1.740 mm.
Đặc biệt, lần đầu tiên toàn bộ các hệ thống sông chính trên cả nước đều xuất hiện lũ lớn hoặc lũ lịch sử, với 21 con sông ghi nhận mực nước cao kỷ lục.
Trong 5 năm gần đây, thiên tai đã khiến hơn 1.500 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.
Không ít thách thức
Ông Nguyễn Xuân Hiển cho biết ngành khí tượng thủy văn đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực dự báo.
Nổi bật là việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào dự báo bão và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Việc này giúp cải thiện độ chính xác dự báo cường độ bão từ 10–20% trong ngắn hạn, đồng thời nhận dạng vị trí, cường độ bão từ dữ liệu vệ tinh với độ chính xác trên 90%.

TS Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia.
Các hệ thống cảnh báo giông, lốc, mưa lớn cực ngắn cũng đang được phát triển dựa trên dữ liệu đa nguồn như radar, vệ tinh, định vị sét và trạm đo tự động, cho phép đưa ra cảnh báo sớm từ 30 phút đến vài giờ.
Bên cạnh đó, các nền tảng giám sát, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất theo thời gian thực, chi tiết đến cấp xã, đang từng bước được triển khai; các mô hình thủy văn – thủy lực hiện đại hỗ trợ dự báo lũ và xâm nhập mặn theo từng lưu vực.
Tuy vậy, theo ông Hiển, công tác dự báo vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Độ chính xác dự báo mưa lớn còn thấp, nhất là với các ngưỡng nguy hiểm; sai số dự báo quỹ đạo và cường độ bão vẫn ở mức đáng kể.
Hệ thống quan trắc chưa đồng bộ, dữ liệu còn phân tán, thiếu các bộ dữ liệu nền quan trọng như địa chất, địa hình theo thời gian thực, khiến việc cảnh báo chi tiết lũ quét, sạt lở đến từng khu vực còn khó khăn.
Công nghệ và AI nâng chất lượng dự báo
Trước những thách thức đó, Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Công Thành cho rằng các phương pháp dự báo truyền thống đang dần bộc lộ hạn chế, nhất là với các hiện tượng quy mô nhỏ nhưng diễn biến nhanh, cường độ lớn.
Điều này đòi hỏi hệ thống dự báo phải được nâng cấp theo hướng nhanh hơn, chính xác và thông minh hơn. Sự phát triển của các công nghệ như AI, dữ liệu lớn, viễn thám, mô hình dự báo số độ phân giải cao, hệ thống quan trắc tự động và các nền tảng phân tích dữ liệu thời gian thực đang mở ra cơ hội lớn cho ngành khí tượng thủy văn.

Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành.
Theo Thứ trưởng, việc ứng dụng các công nghệ này không chỉ giúp nâng cao độ chính xác mà còn rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu, tăng khả năng phân tích rủi ro và xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả.
Hiện Bộ NN&MT đang đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước và thiên tai; phát triển hệ thống dự báo số hiện đại, đồng thời tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan, việc nâng cao năng lực dự báo không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là “lá chắn” quan trọng, góp phần giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ người dân và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.












