Thiết lập cơ chế đặc thù xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Chiều 8/4, Quốc hội đã nghe đại diện Chính phủ trình bày Tờ trình và cơ quan thẩm tra báo cáo về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Dự thảo đặt ra một thay đổi đáng chú ý: thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành xuyên suốt, phân định rõ trách nhiệm từng chủ thể và bổ sung chính sách đặc thù để nâng cao năng lực xử lý tranh chấp. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng cơ chế phối hợp, yêu cầu kiểm soát trách nhiệm, bảo đảm hiệu quả thực thi và cân đối nguồn lực cũng được đặt ra rõ nét trong quá trình thẩm tra.

Thiết lập cơ chế phối hợp toàn diện, chuyển từ xử lý bị động sang phòng ngừa chủ động

Theo Tờ trình của Chính phủ, việc xây dựng Nghị quyết xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện thể chế trong bối cảnh các tranh chấp đầu tư quốc tế có xu hướng gia tăng cả về số lượng và quy mô, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn đến kinh tế, uy tín quốc gia và môi trường đầu tư.

Thực tiễn cho thấy, dù công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đã được quan tâm, nhưng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn phân tán, chưa đồng bộ, dẫn đến việc xử lý vụ việc còn bị động, thiếu nhất quán. Trong khi đó, yêu cầu giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế ngày càng phức tạp, đòi hỏi nguồn lực lớn về pháp lý, tài chính và nhân sự.

Trong bối cảnh đó, dự thảo Nghị quyết xác lập một định hướng xuyên suốt: lấy phòng ngừa tranh chấp làm trọng tâm, xử lý tranh chấp là nhiệm vụ then chốt, hướng tới giảm thiểu tối đa nguy cơ phát sinh các vụ kiện quốc tế.

Đáng chú ý, dự thảo thiết lập cơ chế phối hợp không chỉ trong phạm vi các cơ quan thuộc Chính phủ mà còn mở rộng tới các cơ quan ngoài Chính phủ như Tòa án, Viện kiểm sát, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan liên quan, nhằm bảo đảm xử lý tranh chấp một cách thống nhất và toàn diện.

Cơ chế phối hợp được thiết kế theo hai trục chính. Một là phối hợp trong phòng ngừa, bao gồm việc tham gia xây dựng chính sách, giải quyết phản ánh, kiến nghị của nhà đầu tư nước ngoài, vận hành cơ chế phản hồi nhà đầu tư và nâng cao năng lực cán bộ. Hai là phối hợp trong giải quyết tranh chấp, với việc xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan đại diện pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong toàn bộ quá trình xử lý vụ việc.

Trong đó, việc xác định cơ quan chủ trì được thiết kế theo nguyên tắc gắn với cơ quan trực tiếp có hành vi hoặc quyết định bị khiếu kiện, đồng thời trong một số trường hợp đặc thù, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài sẽ đóng vai trò đầu mối điều phối. Cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm toàn diện từ tiếp nhận thông tin, xây dựng chiến lược, tổ chức thương lượng đến tham gia tố tụng và thi hành phán quyết.

Song song, cơ quan đại diện pháp lý được xác định là lực lượng nòng cốt về chuyên môn pháp lý, tham gia xuyên suốt quá trình giải quyết tranh chấp, từ tư vấn, xây dựng chiến lược đến phối hợp tham gia tố tụng quốc tế.

Một điểm đáng chú ý khác là việc thiết lập cơ chế phản hồi nhà đầu tư nước ngoài và hệ thống theo dõi, xử lý sớm các phản ánh, kiến nghị, qua đó phát hiện sớm nguy cơ phát sinh tranh chấp và có biện pháp xử lý từ sớm, từ xa.

Cùng với đó, dự thảo cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc rà soát chính sách, đánh giá các hiệp định đầu tư quốc tế, xử lý các điểm chồng chéo, bất cập nhằm hạn chế nguy cơ tranh chấp phát sinh từ chính hệ thống pháp luật.

Về nguồn lực, dự thảo đưa ra các cơ chế tài chính và nhân sự nhằm bảo đảm điều kiện thực thi. Trong đó, ngân sách cho công tác giải quyết tranh chấp được bố trí từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác; đồng thời, các khoản chi cho từng vụ việc có thể lên tới hàng chục tỷ đồng tùy quy mô vụ việc.

Đặc biệt, chính sách đối với đội ngũ làm công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp được thiết kế theo hướng đặc thù, với mức phụ cấp có thể lên tới 300% lương hiện hưởng đối với một số vị trí trực tiếp tham gia xử lý vụ việc, nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực có tính chuyên môn sâu và rủi ro pháp lý lớn.

Cần làm rõ trách nhiệm, tránh hình thức trong phối hợp liên ngành

Thẩm tra dự thảo Nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cơ bản tán thành với sự cần thiết ban hành cơ chế đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đồng thời đánh giá cao việc dự thảo đã bước đầu thiết lập được khuôn khổ phối hợp liên ngành tương đối toàn diện.

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả thực thi.

Một trong những nội dung trọng tâm là yêu cầu làm rõ hơn cơ chế xác định cơ quan chủ trì trong các trường hợp có yếu tố tố tụng. Việc giao cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài làm đầu mối điều phối có thể giúp bảo đảm tính độc lập và thống nhất, nhưng cũng đặt ra thách thức về khả năng tiếp cận thông tin, hồ sơ và năng lực xử lý chuyên sâu nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng nhấn mạnh cần thiết kế cơ chế ràng buộc trách nhiệm cụ thể, kèm theo chế tài đối với các cơ quan không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ phối hợp, đặc biệt trong việc cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ giải quyết tranh chấp.

Đối với vai trò của cơ quan đại diện pháp lý, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ hơn vị trí là lực lượng nòng cốt về pháp lý, đồng thời hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm, nhất là trong các vấn đề pháp lý then chốt của vụ việc.

Một điểm đáng chú ý khác là yêu cầu xây dựng cơ chế xử lý khi có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan trong các vấn đề pháp lý quan trọng, nhằm bảo đảm thống nhất quan điểm và hạn chế rủi ro trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Về chính sách đối với nguồn nhân lực, cơ quan thẩm tra đồng tình với việc cần có cơ chế đãi ngộ đặc thù, nhưng đề nghị đánh giá kỹ tính hợp lý và khả năng cân đối ngân sách, cũng như bảo đảm tương quan với các lĩnh vực đặc thù khác trong khu vực công để tránh phát sinh bất cập.

Ngoài ra, việc thiết kế chính sách đang có sự khác biệt giữa cơ quan đại diện pháp lý và các bộ, ngành, địa phương, do đó cần được làm rõ tiêu chí, căn cứ xác định để bảo đảm công bằng tương đối.

Từ những phân tích trên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về phối hợp, trách nhiệm, cơ chế kiểm soát và chính sách nguồn lực, nhằm bảo đảm Nghị quyết khi ban hành có thể triển khai hiệu quả trong thực tiễn.

Trần Hương

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/thiet-lap-co-che-dac-thu-xu-ly-tranh-chap-dau-tu-quoc-te-180205.html