Thiết tha hai tiếng hòa bình

Có lẽ trên thế giới này, ít có dân tộc nào lại trải qua nhiều cuộc chiến chống ngoại xâm như ở Việt Nam. Cũng vì từng phải chịu nhiều đau khổ, mất mát, hy sinh, tổn thất nặng nề bởi chiến tranh nên hơn ai hết, người Việt Nam nhận thức rất rõ ý nghĩa, giá trị của hòa bình và luôn luôn mong muốn hòa bình.

“Bắc Nam sum họp” (năm 1975). Ảnh: Võ An Khánh

“Bắc Nam sum họp” (năm 1975). Ảnh: Võ An Khánh

1. Không kể chuyện xa xưa, chỉ riêng đời ông, đời cha và đến cả đời tôi đã trải qua quá nhiều năm tháng chiến tranh.

Những năm tôi còn nhỏ, bên bếp lửa của nồi nước chè xanh, khoai luộc là những câu chuyện còn nóng bỏng khói súng Cần Vương; của những ngày Xô viết Nghệ Tĩnh hào hùng mà ông tôi là Tự vệ đỏ; của những chiến dịch Điện Biên, Trung Lào... Cứ ngỡ những chuyện ấy mãi là chuyện xa xưa, thế mà năm tôi lên chín, bom Mỹ dội xuống quê hương yên bình. Đó là ngày 5-8-1964.

Cuộc sống của làng quê tôi, một thôn ven đường trên quốc lộ 15 thay đổi hẳn. Trên đoạn đường 15 của tuyến đường Trường Sơn qua Hà Tĩnh, nhiều địa danh găm dày bom đạn vẫn khắc sâu trong hồi ức của những người lính chống Mỹ như phà Linh Cảm, Cống 19, Cầu Bạng, Ngã ba Đồng Lộc... Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã qua đây và để lại bài thơ nổi tiếng “Gửi em, cô thanh niên xung phong”. Những thế hệ mai sau, khi đọc bài thơ ấy cũng như những vần thơ của Tố Hữu: “Tuốt gươm không chịu sống quỳ/ Tuổi xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu/ Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí, chung câu quân hành” sẽ cảm nhận rõ âm hưởng của một bản anh hùng ca. Còn tôi, tôi hiểu chiến tranh từ trong lòng đất, khi cả làng phải sống “nửa âm nửa dương”. Vẫn phải đi cày, gặt hái nhưng học trong hầm, ăn ngủ dưới hầm, những căn hầm tự tạo lấp xấp bùn nước, có khi ở chung với rắn, chuột...

Các anh chị tôi lần lượt nhập ngũ, và hy sinh. Rồi đến lượt tôi đi bộ đội. Nhà treo đầy huân, huy chương và bằng Tổ quốc ghi công. Những năm đầu khi các anh mới mất, mẹ không ngày nào không ngóng vọng về Nam. Cho đến bây giờ, cứ Tết đến mẹ vẫn còn trông ngóng: “Mùa xuân đi lại đến/ Đàn trẻ đi không về/ Mẹ ngóng rừng ngóng biển/ Những chân trời vắng hoe…”

2. Trong ký ức của tôi, chiến tranh còn hiện về trong sự rùng rợn và thảng thốt. Tôi nhớ một bà cụ hàng xóm, nhà chỉ có một con bò, buổi sáng bà nói: “Chỉ mong đến ngày hòa bình thống nhất, sẽ mổ con bò để khao cả làng”. Buổi chiều bom dội, cả bà và con bò đều chết, mọi người phải đi tìm từng mảnh xác. Tôi nhớ, một căn hầm bị sập, khi đào bới lên, cả một gia đình 5 người đều chết, bàn tay người mẹ còn nắm một nắm đất, như thể đang cố bới đất để cứu các con. Tôi nhớ người bạn, sinh viên khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp, đã đi qua chiến tranh chống Mỹ, sống sót ở Campuchia, được cử đi học đại học ở Nga để sau này trở về xây dựng quân đội chính quy, hiện đại nhưng anh đã xin ở lại để theo học văn chương. Và anh đã chết bên cạnh tôi trên chốt biên giới phía Bắc. Những người lính còn sống không chỉ mất đi một thời tuổi trẻ, mà còn mất rất nhiều thứ trong cuộc sống đời thường!

Thế hệ trẻ ngày nay chắc khó tưởng tượng về nỗi đau và sự gian khổ mà chiến tranh gây ra. Cái giá của hòa bình là thứ mà người chưa trải qua không thể biết được. Những ngày đầu xung đột vũ trang tại Ukraine, chính xác là ngày 28-2-2022, tôi có đọc được dòng trạng thái của một bạn trẻ người Việt: “Sinh ra và lớn lên giữa thời bình, không nghĩ đến giờ lại gặp cảnh chiến tranh tang thương thế này. Cảnh gia đình bị chia cắt, ly tán, bỏ xứ mà đi, đi qua biên giới trông ai cũng khổ, đói rét. Không cần học từ đâu xa cả, chỉ cần nhìn và cảm nhận thôi, sẽ thấy trân quý cuộc sống hiện tại...”.

Phải, nếu chưa làm được gì lớn lao, hãy biết trân quý hiện tại với những gì mình đang có, trân quý một ngày được sống trong hòa bình. Đó là hạnh phúc lớn nhất, thiết thực nhất mà bạn đang có. Và tôi muốn nhắn nhủ tới những người Việt Nam sinh sau năm 1975, chưa từng trải qua bom đạn: Hãy thiết tha yêu lấy hòa bình và làm mọi cách để gìn giữ hòa bình.

Dân tộc ta là một dân tộc yêu hòa bình. Thủ đô ta là Thành phố hòa bình. Hòa bình từ máu thịt, từ câu tục ngữ “thương người như thể thương thân”; từ chuyện Thạch Sanh đánh đàn, mời cơm để 18 chư hầu về nước, bỏ mộng gây hấn. Yêu chuộng hòa bình từ lịch sử. Ta luôn coi trọng chuyện đánh vào lòng người hơn là đánh thành diệt tướng. Trong kháng chiến chống quân Minh, trước việc giải quyết hàng binh, Lê Lợi nói: “Việc phục thù trả oán là thường tình của mọi người, nhưng không ưa giết người là bản tính của người nhân. Huống chi người ta đã hàng... Chi bằng hãy cho sống ức vạn mạng người để dứt mối chiến tranh đến muôn thuở”.

Tư tưởng hòa bình được thể hiện cao nhất ở tư tưởng Hồ Chí Minh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng” (“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, ngày 19-12-1946). Ngày 25-8-1969, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ Richard Nixon, Bác khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”...

Lòng yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền tinh thần yêu chuộng tự do, độc lập và quyết tâm bảo vệ tự do, độc lập bằng tất cả tính mạng và tài sản của mình! Hòa bình không phải là thứ đem cho mà phải đấu tranh, gìn giữ!

3. Những ngày này, khi chiến tranh, xung đột vũ trang, bất ổn địa chính trị nổ ra nhiều nơi trên thế giới, ta càng thấy thiết tha hơn hai tiếng Hòa bình!

Tôi đọc lại Hiến chương Liên hợp quốc được ký ngày 26-6-1945 tại San Francisco:

“Chúng tôi, nhân dân các quốc gia liên hiệp quyết tâm:

Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh đã hai lần trong đời chúng ta gây cho nhân loại đau thương không kể xiết;

Tuyên bố một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các quốc gia lớn và nhỏ;

Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác do luật quốc tế đặt ra”.

Khoản 1, khoản 2 của Điều 1 cũng khẳng định:

“1. Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, để đạt được mục đích đó, thi hành những biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ các mối đe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược và phá hoại hòa bình khác; điều chỉnh hoặc giải quyết các vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế có thể đưa đến sự phá hoại hòa bình, bằng phương pháp hòa bình theo đúng nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế.

2. Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới”.

Ở những điểm nóng trên thế giới hiện nay, hàng triệu người đã chết. Hàng triệu người phải sống dưới hầm, sống trong bóng tối, trong đói rét vì mất điện, vì báo động tên lửa và không kích. Nhiều thành phố, làng mạc bị xóa sổ. Hàng triệu người phải rời bỏ quê hương xứ sở. Đó không chỉ là nơi ở, mà đó còn là mồ mả tổ tiên, là những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ. Mất mát ấy làm họ đau đớn, bào mòn họ đến chết và có lẽ cả sau khi chết.

Người mong muốn hòa bình là nhân dân. Nhân dân toàn thế giới.

Ai sẽ đấu tranh và đấu tranh như thế nào để bảo vệ hòa bình? Nếu không trả lời được câu hỏi này, cả thế giới, không trừ ai, sẽ rơi vào thảm họa.

Những tiếng nói hòa bình đang được cất lên mạnh mẽ ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới.

Lương tri sẽ thắng. Hòa bình sẽ thắng!

Nguyễn Sĩ Đại

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/thiet-tha-hai-tieng-hoa-binh-747827.html