Thiếu lao động, nhiều ngành xuất khẩu chạm ngưỡng của mô hình 'lấy công làm lãi'
Từ thực trạng doanh nghiệp ngày càng khó tuyển nhân công, chuyên gia chỉ ra mô hình 'lấy công làm lãi' trong các ngành chế biến xuất khẩu chủ lực đang dần bộc lộ giới hạn.
Tại hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài diễn ra sáng 7/7, một trong những khó khăn được nhiều đại diện hiệp hội ngành hàng đề cập là thiếu hụt lao động.
Nếu như trước đây, Việt Nam thường được nhắc đến với lợi thế nguồn lao động dồi dào, chi phí thấp thì hiện nay, nhiều ngành sản xuất, chế biến xuất khẩu đã bắt đầu đối mặt với bài toán cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút và giữ chân người lao động.
Doanh nghiệp không dám nhận đơn hàng vì thiếu nhân công
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, trong ngành công nghiệp gỗ hiện nay đi đâu cũng thấy điều doanh nghiệp "than" đầu tiên là thiếu nhân công, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Bộ.
“Có nhiều doanh nghiệp nói rằng họ không dám ký hợp đồng vì không tuyển được lao động nữa”, ông Hoài nói.

Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam.
Theo ông, tình trạng thiếu hụt nhân công này không chỉ diễn ra trong ngành gỗ mà còn xuất hiện ở các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày và chế biến thủy sản. Nguyên nhân vì những ngành này không thể trả lương đủ cao để cạnh tranh với những lĩnh vực như điện tử, cũng như với các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam như Nhật Bản hay Hàn Quốc.
“Hiện ở Nhật Bản có những nhà máy chế biến gỗ gần như 100% công nhân là người Việt Nam, chỉ có quản lý là người Nhật”, ông Hoài dẫn chứng và dự báo tình trạng thiếu hụt nhân công trong những năm tới sẽ vô cùng gay gắt.
Đồng quan điểm, ông Trương Văn Cẩm, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cũng cho rằng lao động đang là một khó khăn rất lớn của ngành. Ngay cả những doanh nghiệp mạnh cũng đối mặt áp lực rất lớn về thiếu lao động. Theo ông Cẩm, thu nhập của lao động ngành dệt may nhìn chung chưa cao. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tăng lương lên mức tương đương các công ty điện tử thì nhiều đơn vị sẽ không thể duy trì hoạt động.

Ông Trương Văn Cẩm, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam.
Gỗ và dệt may là hai ngành thường xuyên xuất siêu, đóng góp đáng kể cho cán cân thương mại của Việt Nam.
Theo ông Trương Văn Cẩm, trong khi 6 tháng đầu năm cán cân thương mại cả nước nhập siêu gần 17 tỷ USD, ngành dệt may vẫn xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng ước đạt 22,2 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ.
Ngành gỗ và lâm sản, với tỷ lệ nội địa hóa nguyên liệu tương đối cao - khoảng 80% đầu vào được cung cấp từ rừng trồng trong nước, cũng đóng góp nhiều cho thặng dư xuất khẩu những năm qua. Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của ngành này ước đạt 8,4 - 8,5 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ chỉ đạt khoảng 2,5 - 2,7%. Mức tăng này thấp hơn đáng kể so với mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Chính phủ đặt ra.
Theo ông Ngô Sỹ Hoài, không chỉ quy mô, nhìn sâu vào chất lượng tăng trưởng cũng bộc lộ nhiều điểm đáng lo ngại. Nhóm sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao không những không tăng mà còn giảm 4% kim ngạch. Phần tăng trưởng ít ỏi của toàn ngành chủ yếu đến từ các sản phẩm trung gian hoặc sơ chế như dăm gỗ, viên nén và ván công nghiệp - nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến gỗ. Tại thị trường Mỹ, xuất khẩu giảm mạnh tới 18% trong nửa đầu năm. Ông Hoài dự báo khó khăn có thể tiếp diễn trong nửa cuối năm, đặc biệt khi các quyết định thuế quan của phía Mỹ chuyển từ giai đoạn sơ bộ sang chính thức.
Mô hình “lấy công làm lãi” không còn phù hợp
Tuy nhiên, điều ông Hoài lo ngại nhất không phải sự sụt giảm tạm thời của đơn hàng hay những rào cản tại từng thị trường mà là mô hình tăng trưởng của ngành gỗ và nhiều ngành xuất khẩu khác trong thời gian qua, theo ông, đang dần chạm tới giới hạn.
Vị Tổng thư ký hiệp hội phân tích, các ngành sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng chủ yếu dựa trên lợi thế chi phí nhân công thấp, nguyên liệu đầu vào giá rẻ, dòng vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động gia công cho các nhà nhập khẩu quốc tế. Theo ông Hoài, mô hình này từng phù hợp trong giai đoạn Việt Nam cần tạo việc làm, thúc đẩy công nghiệp hóa phát triển đất nước nhưng hiện nay không theo kịp những thay đổi nhanh chóng của thị trường toàn cầu. Các lợi thế so sánh truyền thống đang dần cạn kiệt, thậm chí trở thành thách thức.
“Trong tất cả sản phẩm chúng ta chế biến cần tạo lợi thế so sánh thực chất như thiết kế, thương hiệu, phân phối… Đó là những công đoạn giá trị gia tăng cao mà chúng ta làm rất ít”, ông Hoài chỉ ra nguyên nhân khiến các doanh nghiệp Việt dễ tổn thương trước biến động của các thị trường thế giới.
Từ góc nhìn này, ông Hoài cho rằng đã đến lúc Bộ Công Thương cần kiến nghị với Chính phủ chủ trì xây dựng một đề án tái cấu trúc các ngành chế biến xuất khẩu chủ lực, trong đó tập trung thay đổi mô hình tăng trưởng như nâng năng suất lao động, tăng tỷ lệ nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp tiến sâu hơn vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao...
"Nếu theo mô hình cũ, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng làm càng nhiều biên lợi nhuận càng bị bào mỏng và rủi ro càng tăng. Trong khi đó, chu kỳ xuất hiện các rủi ro ngày càng ngắn, tần suất và mức độ tác động có xu hướng tăng lên. Sau một thời gian tích lũy lợi nhuận mỏng, nếu có biến động xảy ra, doanh nghiệp sẽ lại phải bán hàng dưới giá thành để duy trì thanh khoản và dòng tiền, thậm chí mất đi toàn bộ thành quả đã đạt được", ông Hoài trăn trở.
Đại diện Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam lo ngại, với những khó khăn hiện nay, ngay cả mục tiêu tăng trưởng khoảng 5% của ngành gỗ cũng đã là một thách thức lớn, chưa nói đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.











