Thiếu tướng Võ Sở: Người chỉ huy kiên cường trên tuyến lửa Trường Sơn và những lần 'cãi' Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên

Sau mỗi buổi giao ban Cơ quan Hội truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam, các cán bộ đều trầm trồ thán phục Thiếu tướng Võ Sở, Chủ tịch Hội, người đã 97 tuổi nhưng vẫn điều hành cuộc họp rất tỉnh táo và kết luận các vấn đề rất mạch lạc. Ông là một trong số rất ít cán bộ cấp sư đoàn của Bộ Tư lệnh Trường Sơn còn sống đến ngày nay.

Là người con của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nhập ngũ năm 1947, với 45 năm cuộc đời binh nghiệp, ông đã trải qua biết bao cuộc chiến đấu ác liệt, mang trên mình nhiều thương tích. Trên đỉnh đầu chỉ còn lơ thơ tóc của vị tướng già vẫn còn một vết sẹo sâu của mảnh đạn pháo trong trận phục kích nổi tiếng tiêu diệt GM 100 của quân Pháp trên đèo An Khê, đường 19, tháng 6-1954, lúc đó, ông là Chính trị viên phó tiểu đoàn.

Sau khi Đoàn 559 thành lập (19-5-1959), ông là người có mặt ở Đoàn 559 rất sớm. Mùa mưa năm 1966, ông vào biệt phái ở Binh trạm 6, nằm sâu trên đất Nam Lào. Tại đây, gần như toàn bộ quân số của Binh trạm bị sốt rét. Thuốc quân y không vào kịp, lương thực, thực phẩm cũng sắp cạn. Ông đau lòng chứng kiến cái đói, bệnh tật đã cướp đi gần 50 đồng đội.

Thiếu tướng Võ Sở. Ảnh: qdnd.vn

Thiếu tướng Võ Sở. Ảnh: qdnd.vn

Hơn 10 năm lăn lộn trong bom đạn ác liệt của Trường Sơn, Võ Sở đã để lại nhiều dấu ấn trong hoạt động của Đoàn 559. Có những dấu ấn là chiến công. Cũng có những dấu ấn là sự “ương bướng” vì trách nhiệm của người chỉ huy tại trận địa.

Ngày 4-11-1968, địch huy động máy bay chiến lược B52 và máy bay cường kích dồn dập đánh phá hai cửa khẩu là trọng điểm ATP trên Đường 20 Quyết Thắng và trọng điểm Seng Phan trên Đường 12. Đường tắc cả tháng trời, hàng không thể đưa vào tuyến trong được. Có ý kiến làm tuyến tránh trong rừng, chuyển vận tải sang phương thức gùi đồ. Nhưng Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên kiên quyết phản đối. Vì làm như vậy không đủ lương thực, thực phẩm cho các lực lượng Đoàn 559, chứ đừng nói vận chuyển cho chiến trường.

Trọng điểm Seng Phan thuộc Binh trạm 31 do Võ Sở làm Chính ủy. Trên khu vực chiều dài 2km, chiều rộng 200m, liên tục 7 ngày đêm, một vạn quả bom các loại trút xuống đã xóa sổ con đường, chỉ còn lại những cồn đá, những hố bom lớn. Thêm vào đó là các loại bom nổ chậm, bom từ trường, mìn vướng nổ, mìn lá, các thiết bị trinh sát điện tử như cây nhiệt đới, cảm biến âm thanh, cảm biến địa chấn… đã gây rất nhiều khó khăn và thương vong cho bộ đội ta, ngăn chặn công binh ra mặt đường.

Tất cả các điểm kho, các hang đều bị oanh tạc. Đường bị đánh tắc nên hàng từ ngoài đưa vào không có chỗ chứa, lái xe đành dỡ hàng xuống hai bên đường để quay xe. Tình hình đó khiến Bộ tư lệnh 559 như ngồi trên đống lửa. Mỗi ngày không dưới 5 lần điện thoại từ Bộ tư lệnh điện xuống hối thúc Binh trạm 31. Một sáng, vì quá sốt ruột, Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên gọi điện gay gắt:

- Anh có làm được không thì để tôi thay người khác. Nguy kịch lắm rồi. Ở cửa khẩu la liệt các ô tô phải tấp lại ven đường, rất dễ làm mồi cho máy bay địch. Không giải tỏa được Seng Phan là có tội với bộ đội, với chiến trường.

Cầm điện thoại, Chính ủy Võ Sở cảm thấy cái nóng như đang dội tới. Ông rất hiểu sự lo lắng, sốt ruột của Tư lệnh. Ông nghẹn ngào:

- Báo cáo. Thay ai là quyền của anh. Tư tưởng của chúng tôi bất di bất dịch là đánh địch, mở đường mà đi, mở đường mà vận chuyển cho chiến trường. Nhưng anh cho phép chúng tôi gắng tìm phương án giải tỏa tối ưu mà mình đỡ thương vong. Chúng nó đánh dữ quá, không ngày nào tại trọng điểm không có người hy sinh. Vừa rồi, địch đánh sập hang, 12 đồng chí của chúng tôi hy sinh không lấy được xác, khó khăn thật, nhưng đảm bảo với anh chúng tôi sẽ khắc phục được.

Những lời ấy của Chính ủy Binh trạm khiến Tư lệnh cảm thông với nỗi lo cũng đang làm “cháy gan ruột” cấp dưới, ông lắng nghe Võ Sở trình bày, trao đổi và tạo mọi điều kiện có thể để giúp binh trạm. Bộ Tư lệnh tăng cường thêm cho Binh trạm 31 một trung đoàn công binh, và ra lệnh: Chậm nhất, ngày 25-11 phải giải tỏa xong trọng điểm Seng Phan!

Với lực lượng có trong tay và lực lượng tăng cường, Binh trạm 31 đã làm thêm 10km tuyến tránh phía tây trọng điểm. Trên tuyến chính, bom đạn Mỹ dồn dập ném xuống, chiến sĩ ta dạn dày đến mức nhà thơ Phạm Tiến Duật mô tả trong bài thơ Tiếng bom Seng Phan: “Thế đấy giữa chiến trường/Nghe tiếng bom rất nhỏ!”.

Cuộc chiến đấu giằng co từng giờ, từng phút với bom đạn địch diễn ra vô cùng ác liệt. Các chiến sĩ công binh vượt lên mọi sự hy sinh, gan góc bám tuyến phá các loại bom, san lấp mặt đường. Mùa khô, đất đá bị bom đánh rơi gần như lấp kín mặt sông. Quan sát kỹ thực địa, Võ Sở nảy ra sáng kiến làm những con đường chạy chéo giữa hai bờ để nếu địch đánh tắc đường bên này, xe vẫn có thể chạy qua sông để đi sang bờ bên kia.

Đúng 5 giờ chiều ngày 25-11-1968, khi mặt trời khuất sâu ngọn núi phía tây, 3 phát súng lệnh nổ, tiếng Binh trạm trưởng dõng dạc: “Vượt trọng điểm!” vang lên giữa núi rừng. 100 chiếc xe của Tiểu đoàn 101 chất nặng hàng rùng rùng vượt trọng điểm Seng Phan an toàn trong sự nghẹn ngào, xúc động của những người chỉ huy, những người lính không tiếc máu xương để khai thông trọng điểm.

Đầu năm 1970, Võ Sở được điều về làm Chính ủy Binh trạm 42. Nhiệm vụ chính của Binh trạm là vận chuyển lương thực, vũ khí, giao liên từ Đường 128 (La Hạp) theo đường B45 giao cho Trị - Thiên và bắc Khu 5.

Trên chiến trường này, ngoài hiểm họa bom đạn từ “giặc trời”, còn thường xuyên bị sự càn quét, lấn chiếm của bộ binh Mỹ-ngụy và biệt kích. Tháng 1-1970, tuyến đường B45A đã bị không quân và bộ binh địch đánh phá ác liệt. Các trọng điểm giao thông thành các túi lửa. Cao điểm Côcava bị 6 tiểu đoàn Mỹ-ngụy chiếm đóng. Cung ứng hậu cần cho B4 và cánh Bắc Khu 5 bị đình trệ.

Ngay sau khi đặt chân đến Binh trạm 42, Võ Sở dành 3 ngày cùng cán bộ tham mưu đến tận các trọng điểm nghiên cứu, tìm ra quy luật đánh phá của không quân địch, nhất là máy bay B52 và phương thức rải chất độc da cam. Ông cùng chỉ huy Binh trạm bố trí lại các vị trí đóng quân các đơn vị để vừa kín đáo vừa thuận tiện cho việc tổ chức vận chuyển. Để tránh thế độc đạo, ông cùng cán bộ công binh trèo đèo lội suối tìm đường vòng tránh các trọng điểm. Chỉ sau một tháng, mọi công việc đi vào ổn định. Các tuyến giao thông không bị ách tắc nữa.

Trong một lần Võ Sở theo xe Zil 157 chở hàng từ La Hạp vào giao cho Khu 5. Khi xe quay về qua động Con Tiên bị máy bay phát hiện đuổi theo, bắn đạn 20 li, 40 li như vãi trấu. Võ Sở leo lên thùng xe quan sát và hướng dẫn lái xe tránh địch. Một mảnh đạn bắn vào lưng Võ Sở, xé toang chiếc bình tông đựng nước đeo bên thắt lưng. Chiếc bình tông đã cứu mạng cho ông.

Chỉ sau 2 tháng Võ Sở về nhận nhiệm vụ, Binh trạm 42 đã hoạt động nhịp nhàng, thuận lợi và hiệu quả. Binh trạm 42 là số ít các binh trạm của Đoàn 559 vừa phải chiến đấu với bom đạn từ trên trời, vừa phải chiến đấu với bộ binh địch, được mệnh danh là “Binh trạm lửa”. Nhiều lần máy bay B52 đánh vào Binh trạm bộ, phải di chuyển cơ quan, nhiều lần chết hụt, nhưng chỉ chưa đầy một năm, Võ Sở cùng Ban chỉ huy đã làm thay đổi cơ bản tình thế của Binh trạm. Nhiều đơn vị của Binh trạm 42 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Không chỉ xử lý xuất sắc các vấn đề nảy sinh ở các cửa khẩu ác liệt, Võ Sở còn là người đầu tiên chỉ huy làm đường kín trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, nhờ đó giữ vững được vận tải chiến lược trong khi chiến dịch vẫn đang diễn ra ác liệt. Tuyến đường kín từ đó được phát triển tới hàng ngàn cây số cho xe chạy ban ngày, góp phần quyết định khắc chế AC-130, một loại “ác điểu” gây cho tuyến vận tải chiến lược vô vàn khó khăn.

Những năm cuối chiến tranh, ông được bổ nhiệm làm chính ủy sư đoàn, rồi Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh 559. Dù ở cương vị nào, ông vẫn là người trực tiếp tham gia chiến đấu. Khi thì làm đường và vận chuyển hậu cần cho chiến dịch nghi binh Tây Nguyên; khi thì chỉ huy bí mật làm đường tiếp cận thành phố Buôn Ma Thuột bằng cách cưa 3/4 thân cây để khi có lệnh là dùng xe ủi ủi đổ các cây này thành đường cho cơ giới ta tấn công vào thị xã. Tiếp đó, ông đốc chiến Sư đoàn 471 vận chuyển 6.000 tấn đạn pháo lớn, các khí tài hạng nặng, cơ động toàn bộ Quân đoàn 3 và sau đó là một số Sư đoàn của Quân đoàn 1 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh

Trong chiến đấu, đôi khi, Võ Sở là một người chỉ huy khá “ương bướng”. Hồi ký của Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên còn kể lại một câu chuyện như sau:

Một buổi sáng tháng 6-1970, Tư lệnh điện xuống Binh trạm 42:

- Tình hình rất khẩn cấp. Anh dùng 20 xe chuyển hàng vào giao ngay cho Quân khu 5. Đó là mệnh lệnh của chiến trường đấy.

Thực hiện lệnh. Binh trạm trưởng Hoàng Xuân Điền triệu tập một cuộc họp triển khai nhiệm vụ. Tại cuộc họp này Võ Sở nói: Tôi cho là dùng 20 ô tô vận tải để chở hàng sẽ không khả thi vì đường quá lầy lội. Thêm nữa, đường qua khu vực A Lưới hiện nay là một túi nước sâu, dài 5 cây số. Nếu bị phát hiện thì xe cháy, hàng cháy là không tránh khỏi. Tôi đề nghị chúng ta sẽ tăng cường lực lượng công binh hộ tống xe con chở hàng theo trục đường thường dùng cho loại xe này, chỗ nào xe không đi được thì gùi thồ. Làm như vậy tuy vất vả nhưng chắc chắn hàng vào được Khu 5. Toàn cơ quan binh trạm nhất trí và đề nghị Võ Sở trực tiếp báo cáo Tư lệnh.

Nghe báo cáo, Tư lệnh tỏ ra không hài lòng. Ông yêu cầu Binh trạm bàn kỹ, rồi báo cáo lại. Binh trạm lại họp, mổ xẻ rất kỹ lợi hại của mỗi kế hoạch, vẫn thấy không thể dùng ô tô vận tải lớn được. Võ Sở điện lên Tư lệnh trình bày chi tiết hơn phương án của Binh trạm, và kết luận:

- Báo cáo anh: Giải pháp chúng tôi đề xuất là căn cứ tình hình thực tế, không thể dùng xe tải chạy qua túi nước A Lưới. Bài học thử nghiệm vận tải mùa mưa năm 1968 buộc chúng tôi phải tính đến khả năng ách tắc ở đó. Làm như vậy địch sẽ phát hiện, đánh phá, gây tổn thất cho ta.

Đến đây thì Tư lệnh đã hết kiên nhẫn:

- Vấn đề bây giờ là thời gian. Sao anh cứ cãi tôi? Hãy làm theo mệnh lệnh đi!

Bình trạm làm theo mệnh lệnh. Thực tế đã diễn ra đúng như Ban chỉ huy Binh trạm dự đoán. Cả đoàn xe không thể vượt nổi qua túi nước A Lưới. 12 xe bị đánh cháy, 8 chiếc hỏng nặng, phải cứu kéo, giấu sang hai bên đường. Số hàng không cháy được gùi thồ giao cho Khu 5.

Sự cố A Lưới của Binh trạm 42 được nêu tại hội nghị tổng kết mùa khô của tuyến. Tư lệnh nghiêm khắc tự phê bình khuyết điểm là không nắm vững tình hình, cộng với không nghiên cứu kỹ đề xuất của cấp dưới. Nhưng ông cũng mong Binh trạm 42 thông cảm cho ông:

- Tình hình khu 5 cấp bách quá, tạo nên sức ép cho Bộ Tổng Tham mưu. Bộ Tổng Tham mưu hối thúc tôi. Tôi lo không đảm bảo thời gian. Cho rằng chỉ có dùng cơ giới mới đảm bảo kịp thời, nên tôi lại hối thúc các đồng chí.

- Rồi ông chậm rãi: Dân Quảng Bình tôi có câu ngạn ngữ “dùi đánh đục, đục đánh khăng”. Cũng như câu chuyện của chúng ta. Sức ép từ trên truyền qua các cấp. Thực sự đây là một bài học, tôi cần rút kinh nghiệm.

Võ Sở đã đi qua Trường Sơn với những kỷ niệm như vậy. Cuối đời binh nghiệp, ông là Chính ủy Binh đoàn 12. Khi về hưu ông tích cực tham gia kết nối đồng đội các đơn vị đã từng chiến đấu trên Trường Sơn trong một mái nhà chung: Hội truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/thieu-tuong-vo-so-nguoi-chi-huy-kien-cuong-tren-tuyen-lua-truong-son-va-nhung-lan-cai-tu-lenh-dong-sy-nguyen-1031284