'Thỏi nam châm' hút khách du lịch từ những làng chài
Từ mái ngói đỏ ở Làng Lò (Đắk Lắk), những chiếc thuyền thúng ở Đà Nẵng đến làng chài Rạch Vẹm (Phú Quốc, An Giang), cánh đồng tỏi Lý Sơn (Quảng Ngãi)… những không gian mưu sinh ven biển đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách.

Hình ảnh những chiếc thuyền đánh cá ở Lý Sơn vượt sóng ra khơi. (Ảnh: P.V)
Khi làng chài trở thành “kho báu” du lịch
Mới đây, Làng Lò - một làng chài có lịch sử hơn 400 năm ở khu vực Phú Yên trước đây, nay thuộc phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk, vừa được lựa chọn là một trong 5 đại diện của Việt Nam đăng ký tham gia giải thưởng “Làng Du lịch tốt nhất” (Best Tourism Villages) năm 2026, của Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism).
Làng Lò hiện là một trong các địa chỉ du lịch mới ở tỉnh Đắk Lắk. Cái tên Làng Lò còn lưu giữ câu chuyện về một nghề từng gắn bó với đời sống cư dân nơi đây. Khi chưa có hệ thống bảo quản hiện đại, người dân xây những chiếc lò gạch để hấp, sấy cá sau các chuyến biển dài ngày. Nghề xưa dần thay đổi nhưng dấu vết của nó còn lại trong các tên gọi Lò 1, Lò 2, Lò 3. Hiện tại, Làng Lò có 72 cơ sở lưu trú du lịch với tổng cộng 459 phòng.
Một ngôi làng nổi tiếng khác là làng Mân Thái tọa lạc ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Làng có tuổi đời hơn 300 năm, người dân trong làng chủ yếu vẫn sống bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản. Đến với ngôi làng, du khách nhớ tới khung cảnh bình yên, những chiếc thuyền thúng xinh đẹp và chợ cá luôn tươi rói, tấp nập từ sáng sớm.
Chia sẻ với báo chí, ông Phạm Anh Việt, Giám đốc Hợp tác xã Du lịch cộng đồng Mân Thái - Thọ Quang (Đà Nẵng) cho biết, vào các dịp cuối tuần hoặc lễ, lượng khách đến bãi biển Mân Thái có thể đạt khoảng 2.000 lượt chỉ trong buổi sáng. Hiện khu vực này có khoảng 70 hộ kinh doanh dịch vụ tham gia phục vụ du lịch biển, tạo thêm việc làm và thu nhập cho nhiều cư dân ven biển.
Theo một khảo sát vào năm 2025 của trang web du lịch
Booking.com với 27.000 du khách từ 33 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tại Việt Nam, có tới 74% khách Việt muốn ghé thăm những điểm đến phù hợp cho các hoạt động về đêm, 70% khách Việt muốn tận mắt chứng kiến những sự kiện hiếm có và ưu tiên chọn nơi lưu trú hạn chế ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm môi trường.
Trong vài năm trở lại đây, Rạch Vẹm (Phú Quốc, An Giang) từ một làng chài nhỏ đã trở thành điểm đến thu hút du khách. Ở Rạch Vẹm, du khách không chỉ tìm đến biển xanh, cát trắng hay mũi Hàm Rồng với hình ảnh những sao biển xinh đẹp, mà còn bị hấp dẫn bởi những căn nhà bè nuôi hải sản trên biển. Tại đây, du khách có thể tự lựa chọn thưởng thức những món như cá, ghẹ, nhum, còi biên mai, ốc hương…

Làng Rạch Vẹm được du khách yêu mến nhờ vẻ đẹp bình yên, dân dã, mộc mạc. Ảnh: Thu Hằng
Xu hướng này cũng “lan rộng” đến đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi). Hòn đảo nhỏ có gần 20 nghìn cư dân. Du khách thường tìm đến hòn đảo nhỏ xinh này để trải nghiệm kỳ nghỉ yên bình, mộc mạc. Ngoài ra, đảo Lý Sơn còn đó nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như lễ hội đua thuyền, câu ca dân gian, khế ước, lệ làng. Trong đó Lễ hội đua thuyền Tứ linh: Lân, Long, Quy, Phụng tổ chức từ mùng 4 đến mùng 7 tháng Giêng hằng năm. Lễ hội biểu dương sức mạnh trai tráng trong làng, là dịp người dân Lý Sơn giữ lịch sử khai phá đảo Cù Lao Ré của các thế hệ đi trước. Tính từ đầu năm 2026 đến giữa năm, tổng lượng khách tham quan đảo Lý Sơn đạt khoảng 120.000 lượt du khách, vào các tháng cao điểm du lịch hè năm 2026, công suất đặt phòng ở Lý Sơn đạt khoảng 90%.
Giữ hương sắc quê biển trước làn sóng đổi thay
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch biển Việt Nam, “bài toán” gìn giữ bản sắc văn hóa tại các làng chài ngày càng trở nên cấp thiết. Chia sẻ với phóng viên, ông Phạm Hải Quỳnh - Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch châu Á (ATI) nhận định, không thể phủ nhận du lịch đã đem lại “làn gió mới” cho các làng chài Việt Nam. Nhờ dịch vụ ăn uống, lưu trú, đưa đón du khách, đời sống của nhiều hộ ngư dân đã cải thiện đáng kể. Nhưng ở chiều ngược lại, áp lực phát triển nóng cũng đang đặt các giá trị truyền thống vào thế báo động.
Tại không ít nơi, quy hoạch tự phát và làn sóng bê tông hóa đã đẩy bến thuyền, chợ cá lùi xa bờ biển. Nhiều ngư dân bỏ hẳn nghề biển để chuyển sang mời khách, mở quán ăn thương mại. Khi những con thuyền gỗ thong dong ra khơi bị thay thế bởi mô-tô nước náo nhiệt, khi mùi biển mặn mòi nhường chỗ cho tiếng nhạc, làng chài nguy cơ biến thành một “sân khấu hóa du lịch” - nơi du khách chỉ đến “check-in” chụp ảnh rồi đi, còn bản sắc bản địa dần biến mất.
Bảo tồn văn hóa không có nghĩa là yêu cầu người dân giữ nguyên sự thiếu thốn hay duy trì những phương thức lao động lạc hậu. Mấu chốt của “bài toán” phát triển bền vững nằm ở việc giúp ngư dân sống tốt hơn bằng chính nghề truyền thống thông qua mô hình du lịch trải nghiệm.

Những chiếc thuyền thúng gắn liền với nhiều làng chài ở Đà Nẵng. Ảnh: P.V
Thay vì biến ngư dân thành nhân viên phục vụ đơn thuần trong các khu nghỉ dưỡng, các địa phương cần trao quyền để họ tiếp tục làm chủ nghề biển nhưng tích hợp thêm yếu tố du lịch. Những sản phẩm độc đáo như tour “Một ngày làm ngư dân”, trải nghiệm cùng ra khơi kéo lưới lúc bình minh, học cách đan lưới, gỡ cá, hay tham gia quy trình làm nước mắm thủ công... chính là “chìa khóa”. Khi hoạt động lao động thường nhật trở thành sản phẩm văn hóa, ngư dân vừa thu được giá trị từ hải sản, vừa có thêm thu nhập từ dịch vụ mà không phải bỏ biển, bỏ nghề.
“Hồn” của làng chài không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên hay những mái nhà rêu phong, mà hiện hữu đậm nét trong đời sống tâm linh và nếp sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng ngư dân. Những lễ hội truyền thống như Lễ Nghinh Ông, lễ cúng cầu ngư, các điệu hò biển... cần được duy trì và phục dựng như những sự kiện văn hóa sống động, hấp dẫn du khách bằng chiều sâu di sản chứ không phải bằng sự xô xát thương mại.
Bên cạnh đó, nhóm ngư dân cao niên chính là “kho tàng di sản sống” của làng. Cần có chính sách hỗ trợ và tôn vinh để họ trở thành những người truyền dạy nghệ thuật đan lưới, đóng thuyền gỗ và trực tiếp kể cho du khách nghe những câu chuyện, huyền thoại gắn liền với biển cả. Nghệ thuật kể chuyện chính là chất keo kết nối cảm xúc, giúp du khách cảm nhận trọn vẹn giá trị tinh thần của điểm đến.
Thực tế cho thấy, nhiều làng chài bị biến dạng do sức ép từ hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp, đẩy người dân bản địa vào thế làm thuê bị động. Để khắc phục điều này, mô hình Du lịch Cộng đồng (CBT) cần được triển khai mạnh mẽ với vai trò trung tâm thuộc về người dân.
Việc thành lập các Hợp tác xã Du lịch cộng đồng sẽ giúp phân chia lợi ích công bằng, bảo đảm một phần nguồn thu từ du lịch được tái đầu tư vào hạ tầng dân sinh, xử lý rác thải và bảo vệ môi trường biển. Đồng thời, ngư dân cần được tập huấn về tư duy làm du lịch văn minh, giữ gìn nét chân thật, mộc mạc sẵn có thay vì chèo kéo, “chặt chém”.
Ở góc độ quản lý, việc quy hoạch không gian bảo tồn lõi là bắt buộc. Cần khoanh vùng bảo tồn nguyên trạng những không gian văn hóa quan trọng như bến thuyền, chợ cá, đình làng... Các công trình mới như homestay hay nhà hàng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn kiến trúc bản địa, ưu tiên vật liệu thân thiện với môi trường. Đặc biệt, việc kiểm soát sức chứa theo từng mùa sẽ giúp giảm áp lực lên hệ sinh thái và đời sống sinh hoạt của người dân.
Làng chài chỉ giữ được “hồn” khi người dân bản địa còn thiết tha bám biển, tự hào về nguồn gốc và sống tốt với nghề của mình. Du lịch không nên và không thể thay thế hoàn toàn kinh tế biển, mà phải đóng vai trò là “bệ phóng” phụ trợ giúp tôn vinh văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống cho ngư dân.
Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/thoi-nam-cham-hut-khach-du-lich-tu-nhung-lang-chai-post347220.html



