Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV: Bước đi chiến lược để vượt qua bẫy thu nhập trung bình
Theo TS. LÊ DUY BÌNH, Giám đốc Economica Việt Nam, yêu cầu chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV là bước đi chiến lược để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Khoa học, công nghệ chỉ phát
huy
động lực khi có thể chế phù hợp
- Trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Theo ông, định hướng này có ý nghĩa như thế nào đối với việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững?
- Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thể hiện tư duy phát triển rất thực tiễn, phù hợp với xu thế toàn cầu và yêu cầu phát triển của đất nước. Đây là bước chuyển mang tính chiến lược để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào 2045.

TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam. Ảnh: Thảo Nguyên
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 1990 đến nay mới chỉ có 34 nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình để trở thành quốc gia phát triển. Điều đó cho thấy Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào các động lực tăng trưởng truyền thống mà phải chuyển sang mô hình phát triển dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Đây cũng là con đường Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản… đã lựa chọn để phát triển vượt bậc.
Trong khi đó, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bộc lộ giới hạn do tài nguyên là hữu hạn, lợi thế lao động giá rẻ sẽ thu hẹp và thời kỳ dân số vàng chỉ còn kéo dài khoảng 5 - 10 năm nữa. Nếu không chuyển dịch kịp thời, Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt lại phía sau trong bối cảnh kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển rất nhanh.
Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ nhấn mạnh yêu cầu đổi mới động lực tăng trưởng mà còn đặt ra mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng sức chống chịu, năng lực tự chủ của nền kinh tế và bảo đảm phát triển bền vững, bao trùm. Đây là cách tiếp cận toàn diện để vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển trong dài hạn.
- Một nội dung đáng chú ý trong phát biểu là yêu cầu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và AI thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Theo ông, đâu là những điều kiện then chốt để hiện thực hóa mục tiêu này?
- Theo tôi, có bốn điều kiện then chốt.
Trước hết là xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ổn định và đủ cởi mở để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo luôn gắn với thử nghiệm và chấp nhận rủi ro, vì vậy thể chế cần tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Hệ thống pháp luật cũng cần mở rộng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), khuyến khích tinh thần kinh doanh mạo hiểm và tạo cơ hội để các chủ thể đổi mới sáng tạo có thể bắt đầu lại sau những thất bại.
Thứ hai là đầu tư đồng bộ hạ tầng phục vụ khoa học, công nghệ như mạng 5G, 6G, trung tâm dữ liệu, hạ tầng năng lượng, các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D)..., đồng thời có cơ chế thu hút mạnh mẽ nguồn lực tư nhân tham gia phát triển các lĩnh vực này.
Thứ ba là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới giáo dục theo hướng tăng tính thực hành, chú trọng các kỹ năng về STEM, AI và công nghệ mới, đồng thời có chính sách thu hút nhân tài trong và ngoài nước.
Thứ tư, doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học. Nhà nước cần có cơ chế tạo động lực, như ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mua sắm công, thúc đẩy quá trình thương mại hóa các sản phẩm R&D của cả khu vực công - tư. Đây sẽ là động lực quan trọng để nâng cao năng lực công nghệ và sức cạnh tranh.
Tổ chức thực hiện là khâu quyết định hiệu quả chính sách
- Phát biểu cũng nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò quản lý, kiến tạo của Nhà nước và vai trò của thị trường trong huy động, phân bổ nguồn lực. Theo ông, cần làm gì để chủ trương này sớm đi vào cuộc sống?
- Tôi rất đồng tình với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước rằng "khâu cốt tử là tổ chức thực hiện". Thực tế, nhiều chủ trương rất đúng nhưng nếu khâu thực thi không quyết liệt, đồng bộ thì khó tạo chuyển biến trong thực tiễn. Vì vậy, giải pháp quan trọng nhất hiện nay là thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết lớn của Đảng đã ban hành gần đây, như Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với đó, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Điều này đòi hỏi các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải sử dụng nhiều hơn các công cụ của thị trường thay vì chủ yếu dựa vào mệnh lệnh hành chính; từ chính sách tài khóa, tiền tệ đến điều hành thị trường đều cần vận hành theo nguyên tắc thị trường nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Đồng thời, cần tiếp tục nâng cao năng lực của bộ máy quản lý và xây dựng mối quan hệ đồng hành giữa nhà nước với doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân. Khi môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, thuận lợi hơn, khu vực kinh tế tư nhân sẽ phát huy tốt hơn vai trò là động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ và tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế.
- Một thông điệp quan trọng khác là phát triển phải lấy con người làm trung tâm; chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của người dân là thước đo cuối cùng. Theo ông, quan điểm này đặt ra yêu cầu gì đối với quá trình hoạch định và đánh giá hiệu quả chính sách?
- Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là lấy con người làm trung tâm của phát triển và lấy hạnh phúc của người dân làm mục tiêu cao nhất. Con người vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực của quá trình phát triển. Điều đó cũng cho thấy tăng trưởng không chỉ được đo bằng GDP hay tốc độ tăng trưởng mà còn phải phản ánh ở chất lượng cuộc sống và mức độ thụ hưởng của người dân.
Quan điểm này đòi hỏi các chính sách phát triển phải hướng nhiều hơn đến con người, từ giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, an sinh xã hội. Nhưng điều quan trọng không chỉ là ban hành chính sách mà phải tổ chức thực hiện hiệu quả để người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển.
Theo tôi, cùng với quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cần xây dựng các công cụ đánh giá mức độ hài lòng của người dân và hiệu quả thực chất của chính sách. Chẳng hạn, có thể đo lường thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính; mức độ thuận tiện khi tiếp cận dịch vụ công; chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước. Ở tầm vĩ mô, các chỉ tiêu như việc làm, thu nhập, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, nước sạch, giáo dục, chất lượng môi trường, khả năng tiếp cận tới các dịch vụ văn hóa, giải trí đều có thể lượng hóa để đánh giá mức độ người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Khi người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển, tăng trưởng mới bền vững và có ý nghĩa.
- Xin cảm ơn ông!











