Thống nhất hành động, khơi thông nguồn lực - Bài 5: Đổi mới tư duy từ quản lý sang kiến tạo, phát triển bền vững và tự chủ
Thực tiễn đang đặt Việt Nam trước yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, đặc biệt trước những biến đổi nhanh chóng của kinh tế thế giới cũng như yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao độc lập, tự chủ và bảo đảm sức chống chịu cao của nền kinh tế đất nước.
Nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng, quản lý nền kinh tế độc lập, tự chủ
Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ trong phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa XIV): Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh hiện nay, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người, công nghệ tự động mới, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu...) ngày càng hoạt động theo chuỗi, vừa khép kín, vừa mang tính mở cao. Điều này cũng đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng, quản lý nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi thách thức và cả cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Không ít ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước. Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực.

Một góc TP Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao. Ảnh: hcm.gov.vn
Thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm thế giới cho thấy, nếu chỉ khai thác những nguồn lực sẵn có như đất đai, ngân sách, đầu tư công sẽ không thể bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững. Bởi đất đai hay tài nguyên thiên nhiên luôn hữu hạn, dần cạn kiệt, chi phí khai thác ngày càng lớn. Trong khi đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng một phần trong tổng nhu cầu đầu tư của toàn xã hội. Giai đoạn 5 năm tới, ước tính nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 38 triệu tỷ đồng.
Trong đó, vốn đầu tư công dù dự kiến huy động tăng nhiều lần so với giai đoạn 5 năm trước, mới chỉ đáp ứng khoảng 20%. Như vậy, nếu không huy động được nguồn lực tổng hợp, kích hoạt các nguồn lực xã hội khác mà chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước sẽ dẫn đến vừa thiếu hụt so với nhu cầu, vừa lãng phí cơ hội phát triển, làm mai một động lực và cơ hội tăng trưởng.
Cần khẳng định rằng, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với khả năng xây dựng và vận hành cơ chế bảo đảm hài hòa lợi ích, hội tụ, lan tỏa và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước, quốc tế. Cùng với đó, cần giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời.
Nền tảng của tăng trưởng thực chất
Cùng với đổi mới tư duy và mô hình tăng trưởng, cần kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất theo "bốn nguyên tắc" cốt lõi được Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm) nhấn mạnh trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Tăng trưởng thực chất; kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công-tư để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng trưởng kinh tế cao phải bảo đảm phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội.
Muốn đạt tăng trưởng nhanh và bền vững, Việt Nam cần huy động đồng thời cả nguồn lực trong nước và quốc tế. Trong đó, vốn Nhà nước giữ vai trò trụ cột, dẫn dắt và kích hoạt các dòng vốn xã hội. Để làm được điều này, cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh dàn trải, bảo đảm đầu tư công thực sự tạo ra năng lực sản xuất mới và lan tỏa sang khu vực tư nhân. Đồng thời, cần tạo thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận vốn, đất đai, thị trường, tháo gỡ rào cản về thể chế, giải phóng sức sản xuất và nguồn lực. Các tập đoàn, doanh nghiệp lớn cần được tiếp sức, đồng hành để triển khai các dự án quy mô lớn, tạo ra cực tăng trưởng và dẫn dắt chuỗi giá trị.
Cùng với nguồn lực trong nước, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã ký kết, thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao gắn với chuyển giao công nghệ. Thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vào các lĩnh vực.
Trong bức tranh chung của nền kinh tế, cần định vị rõ vị trí, vai trò của từng chủ thể: "Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường... Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau". Cấu trúc phát triển này có thể được nhìn nhận rõ trong từng lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội.
Đơn cử như một dự án hạ tầng giao thông được Nhà nước quy hoạch, xây dựng cơ chế để triển khai thực hiện theo phương thức đối tác công-tư, kết hợp cả vốn Nhà nước và tư nhân. Khi hoàn thành, tuyến đường này sẽ góp phần thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phương tiện, trạm dừng nghỉ và các hợp phần khác để cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đẩy mạnh tăng trưởng, tạo việc làm, bảo đảm tốt hơn an sinh.
Một trong những động lực hàng đầu để Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên mới là thúc đẩy đổi mới về thể chế. Điều này cũng đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh ở khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Bên cạnh đó, trọng tâm là cần đổi mới công tác tổ chức, xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đột phá trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Từ đó, khơi dậy sự hứng khởi và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, ý Đảng hòa quyện với lòng dân trong khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thịnh vượng.
Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, bền vững hơn, toàn diện hơn.











