Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị trên cả nước đạt gần 98%
Theo Cục Môi trường, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý tại đô thị trong thời gian qua đạt trung bình 97,58%; còn tại khu vực nông thôn, tỷ lệ này mới đạt 84,22%.

Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt tăng qua từng năm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
Theo Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên cả nước thời gian qua tiếp tục được cải thiện.
Thống kê cho thấy, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt tăng qua từng năm. Riêng năm 2025, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý tại đô thị đạt trung bình khoảng 97,58%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (95%).
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt trung bình khoảng 84,22%; trong đó tỷ lệ chôn lấp khoảng 48,89%.
Hiện cả nước có 1.550 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Trong đó cơ sở chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt là 1.178 cơ sở; cơ sở đốt chất thải rắn sinh hoạt có phát điện đang hoạt động là 11 cơ sở và không phát điện 333 cơ sở; 29 cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành mùn/phân hữu cơ.
Ngoài ra, một số cơ sở xử lý bằng công nghệ khác như sử dụng công nghệ khí hóa, sản xuất viên nén RDF làm nguyên liệu đốt.
Đáng chú ý, công tác quản lý chất thải công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại trong thời gian qua cũng được tăng cường từ khâu phát sinh, thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến xử lý. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường đạt trên 90%; có 120 cơ sở xử lý chất thải nguy hại và 08 cơ sở có hoạt động đồng xử lý chất thải, chủ yếu là nhà máy xi măng, luyện kim; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt khoảng 98,06%.
Tuy vậy, theo Cục Môi trường, công tác quản lý chất thải vẫn còn một số khó khăn như khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tiếp tục gia tăng trong khi hạ tầng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chưa đồng bộ; phân loại tại nguồn còn chậm, tỷ lệ tái chế thấp, chôn lấp vẫn phổ biến.
Việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính đặt ra yêu cầu rà soát, điều chỉnh quy hoạch, quỹ đất, điểm tập kết, trạm trung chuyển và phương án vận chuyển, xử lý chất thải; quy hoạch khu xử lý tập trung cấp vùng, cấp quốc gia chưa được triển khai đầy đủ. Công nghiệp xử lý, công nghệ tái chế, ứng dụng công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu còn hạn chế.
Bên cạnh đó, theo Cục Môi trường, việc quản lý, xử lý một số loại chất thải đặc thù như bùn thải, chất thải xây dựng, phụ phẩm nông nghiệp, chất thải khai thác khoáng sản, pin xe điện và pin năng lượng mặt trời còn bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện giải pháp.
Thời gian tới, Cục Môi trường định hướng sẽ tập trung theo dõi, đôn đốc các địa phương hoàn thiện mục tiêu đạt tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%; theo dõi việc thực hiện kịch bản tăng trưởng GDP của lĩnh vực “Cung cấp nước; xử lý nước thải, rác thải,” phấn đấu cả năm đạt 10,2%, trong đó 6 tháng cuối năm đạt 11,1%./.
