Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Nghĩ cho dân phải chân thành, giữ đạo đức phải nghiêm cẩn

Mỗi khi nhắc đến nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng, người ta thường nhớ tới một con người có ánh mắt điềm tĩnh, sáng; thần thái khoan hòa, tự nhiên; mái tóc bạc chải gọn, với vầng trán toát trí tuệ vượt tầm thời đại.

Từ phải sang: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc. Ảnh Tư liệu

Từ phải sang: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Việt Bắc. Ảnh Tư liệu

Điềm đạm, kiên nhẫn, tận trung với nước, tận hiếu với dân, ông làm việc đến tận cùng trách nhiệm. Từ người thanh niên rời ghế nhà trường theo con đường cách mạng đến vị Thủ tướng gắn bó nhiều thập kỷ với vận mệnh đất nước, ông để lại dấu ấn không phải bằng lời nói hoa mỹ, mà bằng việc lớn; một đời sống giản dị, trí tuệ trong sáng và nhân cách mẫu mực khiến người đời sau tự nhiên kính trọng.

Sinh ngày 1/3/1906 trong một gia đình trí thức ở Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi, người thanh niên Phạm Văn Đồng sớm bộc lộ tư chất thông minh, ham học và lòng yêu nước. Những năm học ở Trường Quốc học Huế rồi Trường Bưởi, ông biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tiếp cận tư tưởng cách mạng của Người qua sách báo tiến bộ được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”… và hòa vào phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên. Các cuộc bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh không chỉ là dấu ấn tuổi trẻ, mà là bước khởi đầu cho một lựa chọn lớn của ông, đó là đi theo con đường cách mạng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Pham Cường/ TTXVN

Thủ tướng Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Pham Cường/ TTXVN

Năm 1926 là bước ngoặt quyết định. Được dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy, người thanh niên Phạm Văn Đồng được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Từ một tấm lòng yêu nước, ông trở thành người chiến sĩ cộng sản, mang trong mình lý tưởng rõ ràng, niềm tin vững chắc. Trở về nước, hoạt động ở Nam Kỳ, đảm nhiệm Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi Ủy viên Ban Chấp hành Tổng bộ Hội, ông sớm chứng tỏ năng lực tổ chức, bản lĩnh chính trị.

Bị mật thám Pháp bắt tại Sàn Gòn năm 1929, bị kết án mười năm tù và đày ra Côn Đảo, ông trải qua gần bảy năm lao tù ở nơi được gọi là “địa ngục trần gian”. Nhưng nhà tù không khuất phục được người chiến sỹ cách mạng kiên trung Phạm Văn Đồng. Ở đó, ông biến gian khổ thành rèn luyện, vượt qua những khó khăn, gian nguy bằng ý chí, nhiệt tình và niềm tin vào tương lai tươi sáng của con đường cách mạng đã lựa chọn. Được trả tự do năm 1936, dù bị quản thúc, ông lại tiếp tục hoạt động trên mặt trận báo chí công khai thời kỳ Mặt trận Dân chủ.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Geneva năm 1954. Ảnh: Võ Năng An/TTXVN

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Geneva năm 1954. Ảnh: Võ Năng An/TTXVN

Năm 1940, ông được làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Côn Minh, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Trở về Cao Bằng năm 1941, ông tham gia vận động, tổ chức Mặt trận Việt Minh, phụ trách báo Việt Nam độc lập, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa. Tại Đại hội quốc dân Tân Trào, ông được cử làm Ủy viên Thường trực Ủy ban dân tộc Giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông là Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I. Từ trí thức yêu nước, ông đã trở thành chính khách cách mạng, gánh vác việc nước trong buổi đầu gian nan.

Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng là Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, rồi Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ ở Nam Trung Bộ. Tại vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, ông cùng cán bộ, nhân dân xây dựng căn cứ địa, thực hiện tự lực cánh sinh, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Trở lại Việt Bắc năm 1949, ông là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng, suốt 41 năm là Ủy viên Trung ương, 35 năm Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm đứng đầu Chính phủ, nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng luôn ở những vị trí đòi hỏi trách nhiệm cao nhất.

Ngày 19/07/1954, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng họp báo tại Trụ sở Phái đoàn Việt Nam ở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sĩ) để thông báo về vấn đề thống nhất Việt Nam. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Ngày 19/07/1954, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng họp báo tại Trụ sở Phái đoàn Việt Nam ở Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sĩ) để thông báo về vấn đề thống nhất Việt Nam. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Ở cương vị Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng đặc biệt coi trọng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Ồng nhấn mạnh nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, lãng phí, đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc hiệu quả, tiết kiệm. Từ ngày đầu độc lập, trên cương vị Bộ trưởng Tài chính, ông đã ký Nghị định giảm thuế và hoãn thuế cho nông dân giữa nạn đói khốc liệt. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như những năm đầu hòa bình, ông chăm lo tổ chức bộ máy gọn nhẹ, huy động sức dân cho kháng chiến, kiến quốc; sau thống nhất, trăn trở tìm lối mở cơ chế sản xuất, từng bước xóa bỏ bao cấp - những tìm tòi quan trọng của tư duy Đổi mới.

Xuyên suốt cuộc đời, nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Cần, kiệm, liêm, chính; nói đi đôi với làm; dám nhận trách nhiệm. Ông quan tâm sâu sắc đến nhân dân, đến trí thức, văn nghệ sĩ, chiến sĩ, đồng chí; giản dị trong sinh hoạt; khiêm nhường trong ứng xử. Từ chiến khu đến Thủ đô, từ người thanh niên yêu nước đến Thủ tướng Chính phủ, từ khi đương chức đến lúc làm Cố vấn Trung ương, nếp sống ấy không thay đổi. Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, những con số 41 năm là Ủy viên Trung ương, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm đứng đầu Chính phủ không chỉ là những trọng trách to lớn của chức vụ, mà là chiều sâu cống hiến của một nhà lãnh đạo vì nước, vì dân. Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng và nhiều phần thưởng cao quý. Nhưng phần thưởng lớn nhất là niềm tin của nhân dân, là sự kính trọng của bạn bè quốc tế với ông.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chiến sỹ công an nhân dân trong ngày ngành công an đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (5/1/1980). Ảnh: Kim Hùng/TTXVN

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chiến sỹ công an nhân dân trong ngày ngành công an đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (5/1/1980). Ảnh: Kim Hùng/TTXVN

Trong bối cảnh đất nước bước vào chặng đường của Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, đặc biệt là sau khi Đại hội XIV được tổ chức, thành công hết sức tốt đẹp và chứng kiến những đổi thay kỳ diệu của đất nước sau 40 năm Đổi mới, nhớ về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Ông, lại một lần nữa khắc sâu điều giản dị: Làm việc nước phải liêm khiết, mẫu mực và bền bỉ; nghĩ cho nhân dân phải chân thành, giữ đạo đức phải nghiêm cẩn; sẵn sàng nhận trách nhiệm cá nhân và nêu cao tinh thần tự phê bình.

Một đời vì nước, vì dân - đó là di sản lớn nhất mà nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng để lại!.

Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/nhan-vat-su-kien/thu-tuong-pham-van-dong-nghi-cho-dan-phai-chan-thanh-giu-dao-duc-phai-nghiem-can-20260228074413462.htm