Thúc đẩy giao thông công cộng tiếp cận cho người khuyết tật tại các đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh
Chiều 27/8, tại Hà Nội, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam và doanh nghiệp xã hội ECUE đã phối hợp tổ chức Tọa đàm chuyên đề “Trải nghiệm sử dụng giao thông công cộng của người khuyết tật tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh: Một số đề xuất giải pháp”.
Chương trình có sự tham dự của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan trong và ngoài nước.

Các đại biểu chia sẻ tại tọa đàm chuyên đề “Trải nghiệm sử dụng giao thông công cộng của người khuyết tật tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Một số đề xuất giải pháp”. (Ảnh: Mai Liên)
Về phía các cơ quan, tổ chức trong nước có PGS.TS Trần Mạnh Huy, Đại biểu Quốc hội khóa XVI; ông Nhâm Ngọc Ngà, đại diện Vụ Vận tải và An toàn giao thông, Bộ Xây dựng, phụ trách giao thông tiếp cận; ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông Hà Nội; bà Nguyễn Thị Bích Hậu, Giám đốc kinh doanh Ebus, Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Sinh thái VinBus; bà Nguyễn Thị Lan Anh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng, Phó Chủ tịch Liên hiệp hội về người khuyết tật tại Việt Nam; ông Lê Quang Bình, Giám đốc Doanh nghiệp Xã hội ECUE.
Về phía các tổ chức quốc tế, có bà Francesca Nardini, Phó Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam và bà Cathy McWilliam, Quyền Tham tán Phát triển, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia.
Hướng tới giao thông công cộng dễ tiếp cận, hòa nhập
Phát biểu khai mạc, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống giao thông công cộng và không gian đô thị có khả năng tiếp cận, hòa nhập đối với người khuyết tật.
Bà Nardini cho rằng những rào cản về tiếp cận không chỉ là thách thức đối với các đô thị đang phát triển mà là vấn đề chung trên toàn cầu. Theo bà, khả năng tiếp cận là nền tảng quan trọng của phát triển con người; khi hạ tầng giao thông thiếu tính hòa nhập, người khuyết tật có thể bị hạn chế cơ hội tiếp cận y tế, giáo dục, việc làm và các hoạt động cộng đồng.
Tiêu chuẩn tiếp cận cần được tính đến ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế hạ tầng, thay vì được bổ sung sau khi công trình đã hoàn thành. Đại diện UNDP kỳ vọng những kết quả nghiên cứu được chia sẻ tại tọa đàm sẽ góp phần chuyển hóa các phát hiện thực tế thành những giải pháp cụ thể, đồng hành cùng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng các đô thị an toàn, thuận tiện và đáng sống cho mọi người.

Khả năng tiếp cận cần được bảo đảm xuyên suốt hành trình, từ vỉa hè, điểm dừng đến phương tiện giao thông công cộng. (Nguồn: BTC)
Từ góc độ đơn vị tham gia nghiên cứu, ông Lê Quang Bình, Giám đốc Doanh nghiệp Xã hội ECUE, cho biết dù hệ thống giao thông công cộng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã có nhiều chuyển biến tích cực, người khuyết tật vẫn gặp phải những khó khăn nhất định về hạ tầng trong suốt hành trình di chuyển.
Theo ông Bình, một hành trình giao thông hoàn chỉnh không chỉ bắt đầu khi hành khách bước lên xe buýt hay vào nhà ga mà kéo dài từ lúc rời khỏi nhà, di chuyển trên vỉa hè, tiếp cận nhà chờ, lên xuống phương tiện, chuyển tuyến cho đến khi đến được không gian công cộng cần tiếp cận.
Do đó, việc chỉ cải thiện riêng lẻ từng hợp phần, chẳng hạn thay mới phương tiện hoặc số hóa thông tin, sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu các khâu không được kết nối liền mạch. Một hành trình có thể bị gián đoạn ngay cả khi phương tiện đã đáp ứng yêu cầu tiếp cận nếu vỉa hè, điểm sang đường hoặc khu vực trung chuyển vẫn tồn tại rào cản.
Từ kinh nghiệm của một số đô thị như Singapore và Tokyo, ông Bình cho rằng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang có cơ hội để tích hợp các tiêu chuẩn tiếp cận ngay từ đầu, trong bối cảnh hai thành phố tiếp tục phát triển metro, BRT, xe buýt điện và các loại hình giao thông công cộng khác.
Theo ông, việc đưa tiêu chuẩn tiếp cận phổ quát vào các khâu thiết kế, đấu thầu, thi công và vận hành sẽ giúp hạn chế việc phải cải tạo, bổ sung sau này, qua đó sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực đầu tư và xây dựng hệ thống giao thông thuận tiện cho nhiều nhóm người sử dụng.

Hành trình giao thông chỉ thực sự hoàn chỉnh khi các điểm tiếp cận được kết nối liền mạch từ vỉa hè đến phương tiện và không gian công cộng. (Nguồn: BTC)
Phát biểu tại tọa đàm, Đại diện Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia bà Cathy McWilliam nhấn mạnh giao thông công cộng an toàn và có khả năng tiếp cận không đơn thuần là vấn đề hạ tầng mà còn là một thành tố của xã hội hòa nhập, theo tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Chính phủ Úc tài trợ cho nghiên cứu nhằm góp phần đưa tiếng nói và trải nghiệm thực tế của người khuyết tật vào quá trình hoạch định chính sách. Trong bối cảnh Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang đô thị hóa và hiện đại hóa giao thông nhanh chóng, bà cho rằng người khuyết tật cần được đặt ở vị trí trung tâm trong những quyết định liên quan trực tiếp đến họ.
Nhận diện rào cản, đề xuất giải pháp
Tại tọa đàm, các đại biểu lắng nghe phần trình bày các phát hiện và khuyến nghị từ Nghiên cứu “Trải nghiệm của người khuyết tật sử dụng giao thông công cộng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh”, do Doanh nghiệp Xã hội ECUE phối hợp cùng UNDP thực hiện.
Nghiên cứu được triển khai trong tháng 6 và tháng 7/2026, thông qua 58 hành trình thực tế, gồm 29 hành trình tại Hà Nội và 29 hành trình tại TP. Hồ Chí Minh. Người tham gia gồm người khuyết tật vận động, người sử dụng xe lăn, người khiếm thị và người điếc. Nhóm nghiên cứu thực hiện 125 hành trình trên các tuyến xe buýt, 6 trải nghiệm BRT, 26 lần sử dụng metro và 5 lần trải nghiệm buýt đường sông, cùng khảo sát 244 điểm dừng/nhà ga và 227 vỉa hè, đoạn đường kết nối.
Kết quả được đánh giá theo 5 nhóm yếu tố gồm hạ tầng vật lý, phương tiện, cơ chế vận hành, văn hóa giao thông và công nghệ số.
Theo nghiên cứu, điểm trải nghiệm trung bình đạt 3,4/5 tại Hà Nội và 3,68/5 tại TP. Hồ Chí Minh. Những yếu tố tích cực được ghi nhận gồm sự xuất hiện của metro, xe buýt sàn thấp, chính sách miễn vé và sự hỗ trợ của nhân viên.
Tuy nhiên, hành trình của người khuyết tật vẫn chưa thực sự liền mạch. Nhóm nghiên cứu ghi nhận 238 “điểm ngắt” tại Hà Nội, tương đương 8,2 điểm mỗi hành trình, và 181 điểm ngắt tại TP. Hồ Chí Minh, tương đương 6,2 điểm mỗi hành trình.

Những bất cập từ vỉa hè, lối tiếp cận đến điểm dừng có thể khiến người khuyết tật gặp khó khăn ngay từ chặng đầu của hành trình. (Nguồn: BTC)
Trong đó, hạ tầng vật lý vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các điểm ngắt, chiếm từ 42,9% đến 54,6% số điểm ngắt tùy từng nhóm khuyết tật. Những vấn đề được ghi nhận chủ yếu liên quan đến tình trạng vỉa hè bị chiếm dụng, thiếu đường dốc tiếp cận và các nút giao cắt chưa bảo đảm an toàn.
Các dạng khuyết tật khác nhau cũng gặp những rào cản khác nhau. Theo nghiên cứu, 25% điểm ngắt trong hành trình của người sử dụng xe lăn xuất phát từ phương tiện, trong khi 20,8% điểm ngắt của người khiếm thị liên quan đến rào cản về thông tin và công nghệ.

Đưa trải nghiệm của người khuyết tật vào quá trình quy hoạch và thiết kế giúp các giải pháp giao thông sát hơn với nhu cầu thực tế. (Nguồn: BTC)
Từ thực trạng “vẫn đi được” nhưng chưa đồng nghĩa với “tự đi được dễ dàng”, nhóm nghiên cứu đề xuất 6 nhóm khuyến nghị trọng tâm.
Thứ nhất, chuyển từ cách tiếp cận từng hạng mục sang bảo đảm trọn vẹn “hành trình tiếp cận”, từ vỉa hè, điểm sang đường, nhà chờ, cổng soát vé đến phương tiện và các điểm chuyển tuyến.
Thứ hai, tập trung xử lý những điểm nghẽn hạ tầng vật lý trọng yếu, nhất là vỉa hè, đường dẫn, lối sang đường và các điểm trung chuyển giữa xe buýt với metro.
Thứ ba, tích hợp các tiêu chuẩn tiếp cận vào quá trình mua sắm phương tiện và xây dựng công trình mới, bao gồm sàn thấp, ram dốc, thông tin bằng âm thanh và hình ảnh.
Thứ tư, chuẩn hóa quy trình vận hành và kiểm soát chất lượng dịch vụ, trong đó chú trọng đào tạo đội ngũ lái xe, phụ xe, nhân viên và kiểm tra định kỳ các tiện ích phục vụ người khuyết tật.
Thứ năm, đồng bộ và tích hợp thông tin trên các ứng dụng giao thông, bổ sung dữ liệu về vị trí thang máy, lối sang đường an toàn và các điểm dừng có khả năng tiếp cận xe lăn.
Thứ sáu, tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong quá trình tham vấn, thiết kế, thử nghiệm, nghiệm thu, đánh giá và giám sát hệ thống.
Lắng nghe tiếng nói, chung tay tháo gỡ

Một hệ thống giao thông công cộng dung hợp cần sự đồng bộ giữa hạ tầng, phương tiện, con người và công nghệ. (Nguồn: BTC)
Từ kết quả nghiên cứu, đại diện các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp vận tải, chuyên gia và cộng đồng người khuyết tật đã cùng trao đổi, thảo luận về thực trạng và đề xuất giải pháp hướng tới một hệ thống giao thông công cộng dung hợp, bền vững.
Tại Tọa đàm, ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông Hà Nội, cho rằng kết quả nghiên cứu và trải nghiệm thực tế của người khuyết tật đã giúp cơ quan quản lý nhìn nhận rõ hơn những bất cập trong quá trình tiếp cận giao thông công cộng.
Ông đặc biệt nhấn mạnh, một số giải pháp vốn được thiết kế nhằm tăng an toàn cho người đi bộ, như cầu vượt, trên thực tế vẫn có thể trở thành trở ngại đối với người khuyết tật. Từ đó, ông cho rằng cần tiếp tục điều chỉnh hệ thống vận tải công cộng theo hướng thuận lợi và phù hợp hơn với nhu cầu của cộng đồng người khuyết tật.
Từ góc độ doanh nghiệp vận tải, bà Nguyễn Thị Bích Hậu, Giám đốc kinh doanh Ebus, Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Sinh thái VinBus, đề cập bốn yếu tố cần được bảo đảm gồm phương tiện, hạ tầng, con người và công nghệ.
Trong đó, bà nhấn mạnh việc tính đến khả năng tiếp cận ngay từ khâu thiết kế phương tiện, với các yếu tố như sàn thấp, đường trượt cho xe lăn, khu vực ưu tiên và hệ thống thông báo bằng âm thanh, màn hình hiển thị. Theo bà, khi khả năng tiếp cận được tích hợp ngay trong thiết kế, người khuyết tật có thể sử dụng dịch vụ độc lập và an toàn hơn.

Hệ thống giao thông công cộng cần được thiết kế đồng bộ từ phương tiện, hạ tầng đến thông tin hỗ trợ người khuyết tật. (Nguồn: BTC)
Ông Nhâm Ngọc Ngà, đại diện Vụ Vận tải và An toàn giao thông Bộ Xây dựng, phụ trách giao thông tiếp cận, tập trung vào việc thực thi các quy chuẩn về tiếp cận cho người khuyết tật. Qua trải nghiệm thực tế, ông cho rằng giữa quy định và quá trình thiết kế, thi công vẫn có thể tồn tại khoảng cách, khiến một số công trình chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu khi đưa vào sử dụng. Vì vậy, ông đề xuất tăng cường kiểm tra, giám sát việc áp dụng quy chuẩn, đồng thời tạo điều kiện để Hội Người khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật tham gia vào quá trình tư vấn, thiết kế và nghiệm thu công trình.
Ở góc độ lập pháp, PGS.TS Trần Mạnh Huy, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhấn mạnh vai trò của chính cộng đồng người khuyết tật trong quá trình xây dựng và giám sát thực thi chính sách. Ông cho rằng thay vì chỉ xây dựng các chính sách “cho người khuyết tật”, cần xây dựng “cùng với người khuyết tật”, để tiếng nói của cộng đồng được đưa vào ngay từ đầu. Theo ông, các nghiên cứu và phản biện từ cộng đồng có thể trở thành kênh giúp cơ quan công quyền nhận diện những vấn đề phát sinh trong thực tế và tiếp tục hoàn thiện chính sách.
Từ trải nghiệm thực tế của người khuyết tật sử dụng giao thông công cộng, bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung, đồng nghiên cứu viên, đặc biệt lưu ý đến những bất cập của vỉa hè và các điểm trung chuyển. Bà cho biết có những trường hợp người sử dụng xe lăn buộc phải đi xuống lòng đường, thậm chí đi ngược chiều để tiếp tục hành trình, vừa gây nguy hiểm cho bản thân vừa có thể ảnh hưởng đến an toàn của những người tham gia giao thông khác. Bà đề nghị các hạng mục hạ tầng cần tính đến khả năng tiếp cận ngay trong quá trình thi công, thay vì chờ công trình hoàn thiện rồi mới sửa chữa, bổ sung.

Tiếng nói của người khuyết tật góp phần nhận diện những rào cản mà thiết kế thông thường có thể bỏ sót. (Nguồn: BTC)
Các đại biểu thống nhất cho rằng, xây dựng giao thông công cộng hòa nhập không chỉ dừng ở việc bổ sung các tiện ích dành cho người khuyết tật, mà cần được nhìn nhận như một yêu cầu xuyên suốt trong quy hoạch, thiết kế, vận hành và giám sát hệ thống giao thông.
Khi tiếng nói của người khuyết tật được lắng nghe và phản ánh đầy đủ trong quá trình này, giao thông công cộng mới có thể trở thành không gian mà mọi người đều có thể tiếp cận, di chuyển an toàn và độc lập.

