Thúc đẩy liên kết chế biến sâu, nâng giá trị cho cà phê Việt
Thúc đẩy liên kết chế biến sâu, xây dựng câu chuyện sản phẩm giàu bản sắc là giải pháp hiệu quả để nâng cao giá trị cà phê Việt trên thị trường quốc tế.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Đây là giải pháp được các chuyên gia đề xuất tại “Hội thảo Giải pháp thúc đẩy chế biến sâu để gia tăng giá trị cho cà phê Việt” do Báo Người lao động tổ chức, chiều 4/4.
Ông Nguyễn Thành Tài, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) thông tin: Ngành cà phê Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế hàng đầu thế giới với sản lượng đạt trên 1,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu hơn 8,4 tỷ USD trong niên vụ 2024/2025. Tuy nhiên, phần lớn giá trị vẫn đến từ cà phê nhân thô, với giá xuất khẩu bình quân khoảng 5.610 USD/tấn, cho thấy Việt Nam chủ yếu đứng ở phân khúc giá trị thấp trong chuỗi toàn cầu.
Trong khi đó, chế biến sâu đang tạo ra giá trị cao hơn rõ rệt: năm 2025, xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt trên 1,4 tỷ USD, giá trung bình khoảng 9.760 USD/tấn. Con số này cho thấy dư địa gia tăng giá trị là rất lớn nếu chuyển dịch sang chế biến sâu.
Thị trường thế giới cũng mở ra cơ hội đáng kể, nhập khẩu cà phê nhân toàn cầu đạt khoảng 7,1 triệu tấn, trong khi cà phê hòa tan đạt 1,13 triệu tấn. Quy mô thị trường cà phê toàn cầu năm 2025 ước đạt 176,55 tỷ USD, với các phân khúc chế biến và tiêu dùng tăng trưởng nhanh.
Dù vậy, cơ cấu xuất khẩu của ngành vẫn phụ thuộc lớn vào cà phê nhân. Nói cách khác, Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi, trong khi phần giá trị cao nhất vẫn nằm ở các công đoạn chế biến, thương hiệu và phân phối tại thị trường nhập khẩu. Nguyên nhân do nhiều rào cản như nguyên liệu chưa đồng đều, chi phí đầu tư lớn, hạn chế về tiêu chuẩn – pháp lý và áp lực tuân thủ quốc tế, cùng với khó khăn về vốn lưu động.
Ông Nguyễn Thành Tài nhấn mạnh, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất để gia tăng giá trị, qua đó giảm phụ thuộc vào biến động giá của cà phê nhân xanh. Khi mở rộng sang các khâu rang xay, hòa tan, chiết xuất hoặc sản xuất nguyên liệu đồ uống, doanh nghiệp có thể hình thành cấu trúc doanh thu đa tầng, nâng cao khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Không chỉ dừng ở giá trị thương mại, chế biến sâu còn tạo động lực ngược trở lại cho vùng nguyên liệu. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu.
Bên cạnh đó, gia tăng chế biến còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam.
Ông Trần Văn Công, Tham tán nông nghiệp Việt Nam tại EU cho biết, Liên minh châu Âu (EU) hiện là trung tâm tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, với kim ngạch khoảng 26,33 tỷ USD mỗi năm, tương đương 2,7 triệu tấn. Mức tiêu thụ bình quân đạt 15,7–20 kg/người/năm cho thấy sức mua rất lớn, tập trung tại các thị trường như Đức, Ý, Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, theo ông Trần Văn Công, xu hướng tiêu dùng tại khu vực này đang thay đổi rõ rệt. Thị trường không còn ưu tiên cà phê giá rẻ, sản lượng lớn, mà chuyển sang yêu cầu cao về minh bạch, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu. Điều này khiến EU vừa là thị trường lớn nhất, vừa là thị trường khắt khe nhất đối với ngành cà phê toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam duy trì vị thế là nhà cung cấp lớn với sản lượng xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, kim ngạch 3,2 tỷ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Đáng chú ý, Việt Nam cũng là quốc gia xuất khẩu cà phê hòa tan lớn thứ hai vào thị trường này. Lợi thế của ngành nằm ở nguồn cung cà phê nhân dồi dào và năng lực chế biến đang từng bước được cải thiện.
Dù vậy, theo ông Trần Văn Công giá trị xuất khẩu cà phê thu về vẫn chưa tương xứng tiềm năng. Cơ cấu xuất khẩu hiện vẫn tập trung vào cà phê nhân và các sản phẩm sơ chế. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi nhưng còn hạn chế ở các khâu tạo giá trị gia tăng cao như chế biến sâu, thương hiệu và phân phối, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị.
Áp lực từ thị trường EU ngày càng gia tăng khi các nhà nhập khẩu siết chặt tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp. Các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng, phát triển bền vững và đặc biệt là quy định chống phá rừng đang trở thành điều kiện bắt buộc. Từ chỗ đánh giá dựa trên rủi ro, EU đã chuyển sang đánh giá toàn diện chuỗi cung ứng, khiến cạnh tranh không còn dừng ở giá hay sản lượng mà chuyển sang năng lực đáp ứng tiêu chuẩn.
Thực tế này bộc lộ nhiều điểm nghẽn của ngành cà phê Việt Nam. Chuỗi sản xuất còn thiếu đồng bộ, quy mô nhỏ lẻ, dữ liệu vùng trồng chưa hoàn thiện, trong khi thương hiệu cà phê Việt tại EU vẫn mờ nhạt. Nhiều sản phẩm có nguồn gốc từ Việt Nam nhưng người tiêu dùng châu Âu chưa nhận diện được xuất xứ.
Trước bối cảnh đó, ông Trần Văn Công cho rằng ngành cà phê cần chuyển hướng mạnh sang chế biến sâu, giảm dần xuất khẩu cà phê nhân, tập trung vào các sản phẩm giá trị cao như cà phê hòa tan, chiết xuất, viên nén và các dòng Robusta chất lượng cao. Đây là giải pháp then chốt để nâng giá trị xuất khẩu và giảm phụ thuộc vào biến động giá thế giới.
Cùng với đó, việc chuẩn hóa và số hóa dữ liệu vùng trồng, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc cần được đẩy nhanh, coi đây là điều kiện bắt buộc để tham gia thị trường EU. Song song, cần đầu tư bài bản cho xây dựng thương hiệu, gắn với các vùng nguyên liệu trọng điểm và nâng cao trải nghiệm sản phẩm.
“Giai đoạn tăng trưởng dựa vào giá rẻ đã qua. Để phát triển bền vững, ngành cà phê Việt Nam phải chuyển từ xuất khẩu sản lượng sang xuất khẩu giá trị; từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn và thương hiệu”, ông Trần Văn Công nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê chia sẻ thông tin tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê chia sẻ góc nhìn, cùng với sự phát triển của cà phê đặc sản được đầu tư về máy móc, quy trình, chất lượng và bán với giá cao hơn, tỉ lệ cà phê chế biến của Việt Nam đã đạt mức 15%, không hẳn quá thấp. Dù vậy, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận tỉ lệ chế biến của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Nguyên nhân không chỉ nằm ở sản xuất mà còn ở cách tổ chức thị trường. Một vấn đề lớn được chỉ ra là cà phê Việt Nam vẫn chủ yếu bán theo kiểu “trôi nổi”, chưa hình thành được chuỗi cung ứng rõ ràng, bài bản.
Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng – lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) chiếm tới khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu, được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính của họ để giữ vững vị trí trong chuỗi.
Từ thực tế này, ông Nguyễn Quang Bình cho rằng để nâng cao giá trị ngành cà phê, yếu tố then chốt là tổ chức lại thị trường, xây dựng chuỗi cung ứng hiệu quả và có sự đồng hành thực chất từ hệ thống ngân hàng. Đồng thời, cần hỗ trợ các nhóm nông dân sản xuất cà phê đặc sản tham gia thị trường một cách bài bản hơn.

Bà Bùi Hoàng Yến, Phụ trách Văn phòng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tại TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Bà Bùi Hoàng Yến, phụ trách Văn phòng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trong quá trình xúc tiến thương mại yếu tố then chốt là xây dựng được “câu chuyện” sản phẩm đủ hấp dẫn để thu hút người tiêu dùng trên các kệ hàng quốc tế. Đây được xem là cách tạo sự tò mò, quan tâm đối với cà phê Việt Nam, bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn và quy chuẩn chung của thị trường toàn cầu.
“Việt Nam có lợi thế về bản sắc văn hóa riêng, và đây chính là nguồn chất liệu quan trọng để xây dựng câu chuyện cho sản phẩm. Thực tế cho thấy khi cạnh tranh thuần túy về chất lượng với các nước Mỹ Latinh như Brazil, cà phê Việt Nam gặp không ít thách thức. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa lại có thể tạo nên sự khác biệt. Nếu cà phê Việt Nam được định vị ở phân khúc cao cấp, đồng thời “khoác” lên câu chuyện gắn với con người, lịch sử và địa lý, sản phẩm hoàn toàn có thể chinh phục thị trường quốc tế bằng bản sắc riêng”, bà Bùi Hoàng Yến chia sẻ thêm.











