Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng: Bài cuối: Đổi mới phương thức kiến tạo

Phát triển hệ thống lý luận dẫn đường: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức, trí tuệ và năng lực cầm quyền; lãnh đạo bằng tầm nhìn, bằng trí tuệ, hành động bằng lương tâm; lấy khát vọng hùng cường làm trục chính trị - tư tưởng. Nhà nước chuyển từ quản lý sang kiến tạo và đồng hành; cân bằng động quyền lực và chống tha hóa quyền lực là khâu quán xuyến toàn bộ hệ thống chính trị bằng pháp luật và đạo lý.

3 đột phá chiến lược

Để đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, con đường phát triển tiếp tục dựa trên ba đột phá: Tự chủ chiến lược: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc toàn cầu. Đột phá phát triển lực lượng sản xuất: Đi thẳng vào khoa học công nghệ hiện đại và chuyển đổi số để rút ngắn khoảng cách với thế giới. Tập trung khoan thư sức dân: Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, giữ gìn an ninh sinh thái để bảo đảm sự phát triển nhân văn và bền vững cho mỗi con người và toàn dân tộc.

Toàn cảnh Phiên họp Đại hội XIV của Đảng

Toàn cảnh Phiên họp Đại hội XIV của Đảng

Với vị thế trung tâm và người chủ đất nước, con người Việt Nam phải mang khát vọng phú cường và nhân văn hiện đại. Trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phải tạo dựng xứng đáng đội ngũ tinh hoa tiêu biểu của dân tộc. Phát triển văn hóa - đánh thức nội lực dân tộc: Văn hóa là sức mạnh nội sinh và phải trở thành nền tảng tinh thần của phát triển; đề cao văn hóa chính trị” - nền tảng của lòng tin xã hội, văn hóa sinh thái là động lực phát triển cân bằng và bền vững; đặt trọng tâm vào chuyển đổi số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; lấy giáo dục, truyền thông và báo chí là tam giác chiến lược phát triển con người Việt Nam kỷ nguyên phú cường.

Phát triển nền kinh tế tổng thể, phù hợp có tốc độ và cường độ phát triển mạnh mẽ và bền vững một cách văn hóa: Chuyển mạnh từ tồn tại sang cơ cấu, rường cột là khoa học công nghệ, cân bằng động các lĩnh vực kinh tế (công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn…), các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, dưới sự dẫn dắt của kinh tế nhà nước, các khu vực kinh tế động lực (tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, đa sở hữu…); giữ vững an ninh kinh tế với an ninh môi trường và an sinh xã hội, trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái tổng thể, mang tầm chỉnh thể và cân bằng.

Phát triển hệ thống lý luận dẫn đường: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức, trí tuệ và năng lực cầm quyền; lãnh đạo bằng tầm nhìn, bằng trí tuệ, hành động bằng lương tâm; lấy khát vọng hùng cường làm trục chính trị - tư tưởng. Nhà nước chuyển từ quản lý sang kiến tạo và đồng hành; cân bằng động quyền lực và chống tha hóa quyền lực là khâu quán xuyến toàn bộ hệ thống chính trị bằng pháp luật và đạo lý.

Một lần nữa nhấn mạnh rằng, mô hình phát triển Việt Nam phú cường tiếp tục giữ vững và dựa trên: Chính trị dẫn đường - Văn hóa soi đường - Khoa học định hình - Dân tộc thực thi. Trong dòng chảy thời đại, đứng vững trên nền móng mấy nghìn năm dân tộc, một Đảng tiên phong, trí tuệ, bản lĩnh và nhân văn, một Nhà nước kiến tạo, quản trị, hiện đại vì đất nước, một Chính phủ hành động, tận tụy vì dân tộc, một Quốc hội viễn kiến, lắng nghe và phụng sự Nhân dân, một dân tộc đại đoàn kết vì danh dự Quốc thể… đó là sự kết tinh xứng đáng nền văn hóa của sự phát triển phú cường, bền vững và nhân văn.

Phát triển hệ động lực căn bản và tìm tòi, lựa chọn cách thức phát triển

Trong hệ động lực phát triển, cần nắm lấy các động lực căn bản:

Động lực căn bản: Con người Việt Nam có tri thức, có khát vọng, có kỷ luật, có trách nhiệm xã hội một cách liêm sỉ, vì danh dự cá nhân trong danh dự đất nước.
Động lực quan trọng: Thể chế hiện đại và phù hợp, giải phóng, minh bạch, kiến tạo và phục vụ phát triển.

Động lực chủ yếu: Văn hóa - tinh thần, rường cột là giáo dục làm nền tảng, văn hóa không đứng ngoài phát triển mà thấm vào mọi quyết sách, hình thành và phát triển tâm lý quốc dân và tâm thế quốc gia chủ động và danh dự - động lực mềm thiêng liêng thực hiện khát vọng phú cường.

Thành tựu phát triển rất quan trọng. Nhưng con đường làm nên thành tựu đó còn quan trọng gấp trăm lần. Theo lộ trình phát triển chiến lược, việc tìm tòi, hoạch định phương thức phát triển vừa tuần tự vừa rút ngắn (về thời gian, bước đi…) vừa nhảy vọt một cách phù hợp, nhân văn thật sự trí tuệ, không rơi ảo tưởng, viển vông, manh động và càng không lâm vào thúc thủ, rụt rè, thậm chí sợ hãi… là việc có ý nghĩa quyết định thành công quan trọng và bền vững.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Cơ cấu lại mô hình nền kinh tế: Phát triển tổng thể, thống nhất, đồng bộ theo cơ cấu và chỉnh thể gồm các phương diện kinh tế, các khu vực kinh tế, các ngành kinh tế chủ lực, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò dẫn dắt và kinh tế tư nhân (đặc biệt là các doanh nghiệp dân tộc) là động lực quan trọng; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; chuyển dịch từ nền kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức và đổi mới công nghệ; cải cách trình độ quản trị bảo đảm sự tương dung với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới trong sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Không thể tăng trưởng bằng mọi giá (hy sinh môi trường đổi lấy tăng trưởng, “đốt tiền đổi lấy tăng trưởng”…), giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng với phát triển, bảo đảm đời sống toàn diện, trước hết về thu nhập kinh tế của Nhân dân và sự cân bằng giữa tăng trưởng với môi trường sinh thái là thước đo trình độ phát triển.

Cải tổ thể chế và bộ máy: Hợp quy luật và hợp lòng Dân phải là căn cứ đổi mới kiến tạo thể chế. Mọi thể chế phải được kiến tạo từ yêu cầu phát triển của thực tế, từ đời sống toàn diện của Nhân dân, nhằm giải phóng mọi tiềm lực, tiềm năng về tư tưởng, mọi nguồn lực, bảo vệ kỷ cương, đạo lý, quyết không phải sự chuyển dịch hay tư biện viển vông hay ý chí chủ quan hay nôn nóng, bất chấp quy luật. Mọi công nghệ chỉ là công cụ. Tất cả sức mạnh của chúng phụ thuộc vào sự thành thạo, liêm chính của cán bộ, công chức bằng thể chế. Công vụ và lòng Dân phải là tấm gương soi cán bộ, công chức và bộ “lọc” trước hết và sau cùng đối với những người chịu trách nhiệm tổ chức thực thi thể chế. Tri thức không có đạo đức, liêm chính thì nguyên vẹn là sự vô trách nhiệm phi pháp lý, thậm chí sự vô cảm và phi đạo lý. Hiệu quả và sự phát triển phải là thước đo sự đúng đắn hay không của thể chế, sự trong sáng hay nhem nhuốc của đảng viên, cán bộ và công chức.

Cải cách nền hành chính quốc gia, nhất là chính quyền địa phương hai cấp thật sự tinh gọn, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và giải trình minh bạch; phá bỏ các "điểm nghẽn" về thể chế để loại bỏ cơ chế nảy sinh sự bất liêm. Đồng thời, chỉnh đốn cán bộ, công chức bằng các chuẩn mực chính trị và đạo đức: trung thành, trung thực, chuyên nghiệp, liêm sỉ, phụng sự và đo lường hiệu quả công vụ song hành với độ hài lòng của Nhân dân và doanh nghiệp; loại bỏ lợi ích nhóm và tham nhũng quyền lực, lãng phí, coi thường Nhân dân và các bệnh hoạn tiêu cực khác. Đây không chỉ là đạo đức cá nhân mà là trách nhiệm chính trị tối cao của mọi bộ máy. Đến lượt chúng, mọi bộ máy muốn tinh gọn, mạnh mẽ, hiệu quả phải được xây dựng trên những con người biết tự trọng và biết xấu hổ. Nhưng lưu ý rằng, cảm xúc là kẻ thù của mọi thành công trên phương diện này và đặc biệt trên lĩnh vực kiến tạo thể chế.

Giữ gìn liêm sỉ cá nhân trong Quốc sỉ không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là động lực phát triển của mỗi người, của nền hành chính và của dân tộc. Đó là mệnh lệnh hành động chính trị và đạo lý tối cao của toàn bộ hệ thống chính trị và mỗi người, vì quốc gia xã tắc tự chủ chiến lược, tự tôn và phú cường.

Phát triển nhân lực, trọng dụng nhân tài: Bằng thể chế hiện đại, phải nhanh chóng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng, chọn lựa và trọng dụng nhân tài tương xứng.

Toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội, trước hết giáo dục - đào tạo đi tiên phong đào tạo con người hoàn thiện từ gốc trước khi trở thành chính trị gia - quản trị gia - kỹ trị gia - chiến lược gia - doanh gia một cách căn bản, đồng bộ, thống nhất, kỹ lưỡng và thiết thực; sàng lọc đội ngũ cán bộ, bảo vệ những người dũng cảm vì lợi ích của quốc gia dân tộc thống nhất với lợi ích của Nhân dân và lợi ích của các quốc gia dân tộc khác trên thế giới. Xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ tiên phong, trung thực, dũng cảm, liêm chính, danh dự và biết giữ thể diện và uy tín trước Nhân dân; đội ngũ trí thức tiên phong tri thức, sáng tạo và dũng cảm phản biện khoa học; đội ngũ doanh nhân tiên phong hội nhập quốc tế, đi đầu phát triển của cải quốc gia và dũng cảm đổi mới.

Trong bố trí chiến lược cán bộ, chọn đúng người, giao đúng việc, kiểm soát chặt chẽ và định lượng hiệu quả công việc song hành với kiên quyết loại bỏ những phe nhóm đồng lợi ích, gia đình trị, những người không đủ năng lực, phẩm hạnh cá nhân; trừng phạt những đảng viên, cán bộ hoen ố tư cách và “nhuộm chàm” danh dự, tham nhũng, trộm cắp, thất nhân tâm và bất chấp lòng Dân - phép nước...

Khơi dậy khát vọng dân tộc và niềm tin của Nhân dân: Nhân dân - chủ thể tối cao: Không chỉ là chủ quốc gia, là người thụ hưởng mà là người đồng sáng tạo và phát triển kỷ nguyên phú cường.

Chính trị là biểu tượng, là niềm tin, là minh bạch và công bằng, là quyền lực và kiểm soát đa chiều, công minh và công bằng quyền lực, trước hết từ trên xuống. Không có biểu tượng ngang tầm, không kiểm soát quyền lực nghiêm khắc nhất định sẽ làm mất tính chính danh của Đảng, mất niềm tin chính trị, dẫn tới thờ ơ chính trị và rối ren chính trị và thất bại. Do đó, phải xây dựng biểu tượng chính trị, kiểm soát quyền lực bằng pháp lý và đạo lý, phá bỏ những “vòng tròn quyền lực khép kín” bằng pháp lý và đạo lý thật sự kiên quyết, công bằng, minh bạch và nghiêm khắc.

Trong bước chuyển ý chí của Đảng thành hành động của toàn dân tộc, tạo ra bước chuyển lớn về chất trong nhận thức và hành động của mọi thành viên xã hội, phải bằng thể chế, cơ chế tương dung với bảo đảm hệ thống lợi ích phù hợp nhằm khoan thư, bồi dưỡng sức Dân, phát triển tâm thế quốc gia chủ động, tâm lý quốc dân đồng thuận. Thiếu trọng sự này, sẽ rơi vào ảo tưởng, mất từ gốc và rất khó thành công.

Hội nhập và cân bằng chiến lược các mối quan hệ bang giao quốc tế: Với tinh thần cầu thị, tự chủ chiến lược, không xa lánh, không kỳ thị, không gây thù oán với một ai, bảo đảm cân bằng động các mối quan hệ quốc tế chiến lược để quốc gia phát triển trong ổn định chiến lược. Trong thời đại ngày nay, khi quốc gia liêm chính, khi dân tộc có tự trọng cao và mỗi người, nhất là những người giữ trọng trách quốc gia tự trọng, liêm sỉ sẽ vun đắp Quốc sỉ và phát triển niềm tin chiến lược với các đối tác toàn cầu trong tất cả các mối quan hệ bang giao quốc tế, đất nước nhất định thành công. Và, khi dân tộc không chỉ góp phần bảo vệ và phát triển mà còn cùng các quốc gia dân tộc dẫn dắt thế giới phát triển hòa bình, thống nhất, văn minh và tiến bộ, một Việt Nam phú cường dù không cầu nhất định cũng ắt tới.

Trong tầm nhìn năm 2050, kỷ nguyên Việt Nam phú cường xứng đáng tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ ở tầm vóc mới mang tầm thế giới của lịch sử dân tộc với tư duy chiến lược, tầm nhìn thời đại, độc lập tự chủ làm nguyên tắc, hệ giá trị làm cốt lõi và chuẩn mực tối thượng, Nhân dân làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, thể chế làm đòn bẩy, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, khoa học công nghệ là động lực trung tâm, phát triển bền vững, bản sắc và nhân văn, nhịp bước cùng thời đại.

TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/thuc-hien-nghi-quyet-dai-hoi-lan-thu-xiv-cua-dang-bai-cuoi-doi-moi-phuong-thuc-kien-tao-10405826.html