Thực phẩm Việt trước 'luật chơi mới': Tuân thủ đúng luật và 'sống còn' bằng minh bạch
Trong bối cảnh thực phẩm Việt đứng trước 'luật chơi mới' với áp lực giám sát từ trong nước cho đến yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu, không gì khác hơn là các doanh nghiệp phải tuân thủ đúng luật và xem minh bạch như yếu tố 'sống còn'.
Vào thời điểm cận Tết Nguyên đán 2026, hàng hóa thực phẩm lưu thông nhanh, khối lượng lớn, rất dễ phát sinh lỗi chất lượng, sai nhãn, vượt công suất hệ thống kiểm soát. Trước thực tế đó, lực lượng chức năng các địa phương đang siết chặt kiểm tra, xử lý nghiêm thực phẩm kém chất lượng để người tiêu dùng yên tâm đón Tết.
Từ áp lực giám sát
Như tại Tp.HCM, trong tháng 2/2026, ngành An toàn thực phẩm Thành phố đang triển khai cao điểm kiểm tra, tập trung các mặt hàng các nhóm sản phẩm được tiêu thụ nhiều (như sản phẩm thịt, đồ uống, bánh, mứt, kẹo, rau củ quả và phụ gia thực phẩm) và truy xuất nguồn gốc nghiêm ngặt. Đặc biệt, khi thấy dấu hiệu vi phạm, đoàn kiểm tra sẽ lấy mẫu kiểm nghiệm sản phẩm, cũng như thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Các DN thực phẩm Việt cần tuân thủ đúng luật và xem minh bạch như yếu tố “sống còn” khi đứng trước “luật chơi mới”.
Hay như trên thị trường thương mại điện tử (TMĐT) nội địa trong năm nay đang đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp (DN) thực phẩm phải tuân thủ bằng việc tăng khả năng truy vết sản phẩm, hướng tới thị trường an toàn, minh bạch. Nhất là tuân thủ không chỉ để “đúng luật”, mà là nền tảng tạo niềm tin cho người tiêu dùng, giảm rủi ro và nâng năng lực cạnh tranh của DN trong dài hạn.
Nên nhắc thêm, báo cáo mới nhất của Công ty nghiên cứu thị trường Qandme đưa ra trong tháng 2/2026 về mối quan tâm an toàn thực phẩm của người Việt Nam năm 2026, chỉ rõ 70% người tiêu dùng cho rằng an toàn thực phẩm là cực kỳ quan trọng, đặc biệt tại Hà Nội và nhóm tuổi 40–49.
Báo cáo này phân tích mối quan tâm về an toàn thực phẩm của người tiêu dùng Việt Nam, tập trung vào mức độ quan trọng, trải nghiệm, kênh mua. Theo đó, 64% người tiêu dùng cho biết mức độ quan tâm đã tăng, chủ yếu do lo ngại sức khỏe, hóa chất, vệ sinh và tin tức truyền thông. Chỉ khoảng một nửa cảm thấy tự tin trong việc tự nhận biết thực phẩm an toàn.
“Phần lớn người tiêu dùng từng gặp vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm, phổ biến nhất là đau bụng hoặc tiêu chảy. Thịt tươi và thực phẩm chế biến sẵn là các nhóm gây lo ngại cao nhất; hạn sử dụng và xuất xứ được kiểm tra nhiều nhất”, báo cáo của Qandme nêu rõ.
Bên cạnh mối quan tâm về giám sát an toàn thực phẩm ở trong nước thì trên những thị trường xuất khẩu (XK) chủ lực của Việt Nam trong thời gian tới cũng đặt ra các yêu cầu cao về thực phẩm.
Điển hình như EU, hiện tại đang có nhiều quy định mới và sửa đổi được đưa ra trong năm nay, tập trung vào kiểm dịch thực vật và phòng ngừa sinh vật gây hại. Chẳng hạn yêu cầu làm rõ nội dung tối thiểu trong khai báo bổ sung của Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật đối với các sinh vật gây hại không thuộc diện kiểm dịch. EU cũng đề xuất mức dư lượng tối đa đối với nhiều hoạt chất.
Ngoài ra, như lưu ý của bà Nguyễn Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland, và Latvia, đó là: “chỉ những DN tiên phong trong công nghệ xanh mới có thể tồn tại và phát triển trong trật tự mới”.
Theo bà Thúy, các DN Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc, bởi một trong những thị trường XK lớn nhất của chúng ta là EU đang chuyển dịch sang các tiêu chuẩn xanh.
Đến “phần nổi” và “phần chìm” cần khớp nhau
“Với Việt Nam, đây là thời điểm không thể chần chừ. Nếu nhanh chóng hành động, DN Việt Nam không chỉ duy trì được thị trường XK mà còn có cơ hội trở thành nhân tố quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu xanh đang hình thành”, bà Nguyễn Hoàng Thúy nói.
Hoặc như với thị trường Mỹ trong năm 2026 này tiếp tục đòi hỏi an toàn thực phẩm khắt khe hơn, tập trung vào tính minh bạch, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bền vững.
Phía Mỹ điều chỉnh các quy định liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, bao gồm việc tiếp nhận các đơn kiến nghị về mức dư lượng hóa chất, thiết lập mức dung sai đối với isocycloseram, glufosinate trên nhiều loại hàng hóa. Điều này buộc các doanh nghiệp XK thực phẩm Việt cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh, dư lượng.
Có thể nói trong bối cảnh “luật chơi mới” như vậy – từ áp lực giám sát trong nước cho đến yêu cầu mới của các thị trường XK, đang đòi hỏi các DN thực phẩm Việt phải đáp ứng tốt việc này. Nhất là khi những vụ việc liên quan đến “thực phẩm bẩn” và “thực phẩm giả” nối tiếp nhau đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm lý xã hội.
Xét về mặt XK thực phẩm, ông Lâm Hoàng Quân, chuyên gia đào tạo và đánh giá trưởng các tiêu chuẩn quốc tế của SGS Việt Nam, cảnh báo điểm mới là các cơ quan quản lý lớn như châu Âu hay Hoa Kỳ đều chuyển sang cách quản lý theo chuỗi.
Theo đó, họ không chỉ nhìn vào “một mắt xích” ở nhà máy cuối cùng, mà nhìn toàn bộ hành trình sản phẩm: Từ vùng nguyên liệu, vận chuyển, chế biến, đóng gói, phân phối đến tay người tiêu dùng. Một lỗ hổng ở bất kỳ khâu nào cũng có thể kéo theo thu hồi hàng loạt hoặc cấm cửa cả thị trường.
“Các con số cảnh báo từ RASFF (châu Âu) và FDA (Hoa Kỳ) cho thấy xu hướng vi phạm và gian lận vẫn tăng. Thực phẩm khai báo sai, không minh bạch về dị ứng, dư lượng, nguồn gốc đang là nguyên nhân lớn dẫn đến thu hồi sản phẩm”, ông Quân chia sẻ.
Do đó, vị chuyên gia này cho rằng các DN Việt Nam cũng không đứng ngoài làn sóng này khi liên tục xuất hiện những vụ việc liên quan hàng không rõ nguồn gốc, ghi nhãn sai, điều kiện chế biến không an toàn…
Và theo một kết quả khảo sát mà ông Quân dẫn lại, khoảng 80% người tiêu dùng sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm có chứng minh tiêu chí môi trường và nguồn gốc rõ ràng. Minh bạch, vì thế, không chỉ là “chi phí tuân thủ” mà là đòn bẩy cạnh tranh.
Ông Lâm Hoàng Quân cũng dùng hình ảnh “tảng băng” để chỉ rõ “phần nổi” là những gì người tiêu dùng thấy: Nhãn mác, thành phần, xuất xứ, hạn dùng, logo chứng nhận, QR code, cam kết “không phụ gia X, không dư lượng Y”, sản phẩm chay, hữu cơ, không biến đổi gen…Thế nhưng “phần chìm” là những thứ DN phải tự làm: Kiểm nghiệm, giám định, hồ sơ truy xuất, quy trình kiểm soát, chứng nhận của bên thứ ba, hệ thống ghi chép nội bộ.
"Minh bạch chỉ thực sự có ý nghĩa khi “phần nổi” và “phần chìm” khớp với nhau. Nếu bao bì quảng cáo “sạch”, “an toàn”, “tự nhiên” nhưng bên trong không có bất kỳ dữ liệu nào chứng minh, một cuộc kiểm nghiệm độc lập hoặc một sự cố truyền thông có thể làm thương hiệu “bay màu” chỉ sau một đêm". Ông Lâm Hoàng Quân, chuyên gia đào tạo và đánh giá trưởng các tiêu chuẩn quốc tế của SGS Việt Nam nói.
Chẳng hạn vấn đề truy xuất nguồn gốc, theo ông Quân, toàn bộ hành trình sản phẩm của DN phải được ghi nhận: Nguyên liệu từ đâu, ai cung cấp, lô nào, xử lý ra sao, khâu chế biến, đóng gói, vận chuyển, phân phối…Các chuẩn mới như FSMA 204 ở Hoa Kỳ yêu cầu DN có mã lô truy xuất riêng, có khả năng cung cấp thông tin cho FDA trong vòng 24 giờ nếu có sự cố.











