Thực thi nghị quyết - thước đo quyết định năng lực lãnh đạo - Bài 2: Vì sao cùng một chủ trương, nhưng hiệu quả khác nhau?
Thời gian qua xuất hiện một nghịch lý: Cùng một chủ trương của Trung ương, cùng một cơ chế, chính sách, nhưng khi triển khai vào đời sống, kết quả thu về lại có sự khác biệt giữa các địa phương. Nơi thì bứt phá ngoạn mục, nơi lại trì trệ, nghị quyết không đi vào cuộc sống. Nguyên nhân vì đâu?
Nơi bứt phá, nơi trì trệ
Xin lấy một số ví dụ làm minh chứng cho sự phân hóa rõ rệt về kết quả khi triển khai nghị quyết của Đảng vào thực tiễn. Cụ thể như việc thực hiện chủ trương chuyển đổi số, hai địa phương là TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ninh đã bứt phá mạnh mẽ, vươn lên trở thành điểm sáng của cả nước.

Ảnh minh họa: tienphong.vn
Nhiều người lý giải rằng, đó là do Đà Nẵng, Quảng Ninh có nguồn lực dồi dào hơn nơi khác. Nhưng không đơn giản chỉ là do nguồn lực, bởi cũng có địa phương nguồn lực tốt hơn nhưng kết quả thực hiện lại chưa bằng. Quan trọng là hai địa phương nói trên có quyết tâm chính trị cao độ, sự chỉ đạo quyết liệt và cách tiếp cận toàn diện. Cụ thể, hai địa phương đã ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm dồn sức lãnh đạo, tập trung nguồn lực và xác định rõ khâu đột phá là xây dựng hạ tầng (trung tâm hành chính công hiện đại, hạ tầng dữ liệu dùng chung) và đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ trình độ, năng lực để vận hành. Khi thủ tục hành chính được giải quyết thông suốt qua dịch vụ công trực tuyến, giúp giảm thời gian, bớt phiền hà cho người dân, doanh nghiệp và kết quả thu về là chỉ số năng lực cạnh tranh và sự hài lòng của người dân tại Đà Nẵng và Quảng Ninh đạt mức cao, thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh.
Ngược lại, cùng thực hiện chủ trương chuyển đổi số, nhưng có địa phương chỉ tập trung vào việc mua sắm máy móc, trang thiết bị thật đắt tiền. Máy tính hiện đại được trang bị đến tận cơ sở nhưng cán bộ không biết sử dụng; hạ tầng chắp vá, thiếu đồng bộ, đường truyền yếu, người dân không thể thực hiện được một số dịch vụ công trực tuyến đơn giản... Kết quả chuyển đổi số tại những nơi ấy rất yếu vì thiếu sự chuẩn bị cần thiết về con người.
Một ví dụ khác là về thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới. Các tỉnh như Hưng Yên, Ninh Bình... thực hiện với quan điểm nhất quán “nhân dân là chủ thể, là trung tâm của nông thôn mới” theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhờ đó, các địa phương này đã khơi dậy sức dân, huy động được mọi nguồn lực trong dân và về đích sớm nông thôn mới, rồi tiếp đà đó để xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu bền vững, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Cũng thực hiện chủ trương ấy, không ít địa phương vì chạy theo thành tích nên nóng vội, huy động quá sức dân, rồi vay mượn để hoàn thành một vài tiêu chí nông thôn mới mà đáng ra phải cần thêm thời gian, thêm nguồn lực. Có địa phương chạy theo sự hào nhoáng, cố xây trụ sở, quảng trường to đẹp, hoành tráng, trong khi hạ tầng sản xuất lạc hậu, thiếu nguồn lực cho phát triển, người dân thiếu việc làm ổn định, đời sống khó khăn. Kết quả là, dù được công nhận nông thôn mới, nhưng địa phương phải oằn mình gánh thêm khoản nợ đọng xây dựng cơ bản.
Người đứng đầu - căn nguyên quyết định của bứt phá
Thời gian qua, tốc độ triển khai các nhiệm vụ tại Hà Nội được đẩy nhanh hơn. Nhiều việc, nhiều dự án là điểm nghẽn nhiều năm đã được tháo gỡ. Để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội Đảng XIV vào cuộc sống, Thành ủy Hà Nội đã đề ra chương trình hành động xác định rõ mục đích, yêu cầu xuyên suốt là cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng gắn với hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố. Trong đó, có thể thấy rõ vai trò nổi bật của người đứng đầu với tinh thần “nói ít, làm nhiều”, cụ thể hóa quyết sách bằng hành động.
Dấu ấn rõ nét là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục). Với sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, công tác giải phóng mặt bằng của dự án cơ bản hoàn thành. Tổng diện tích thu hồi đạt 153.341m², liên quan 1.983 hộ dân và tổ chức. Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường Ô Chợ Dừa, Giảng Võ và Láng đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất đối với 1.295 hộ dân, trong khi 7 năm trước đó, các quận chỉ giải quyết được 686 hộ. Hiện nay, Thành ủy Hà Nội đang chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng của thành phố khẩn trương đẩy nhanh tiến độ xây dựng 8 hồ điều hòa mới và các bể điều tiết ngầm để chống ngập khẩn cấp trước mùa mưa năm nay với tổng mức đầu tư gần 5.600 tỷ đồng. Nếu việc này được thực hiện, Hà Nội sẽ giải quyết cơ bản vấn đề rất nhức nhối thời gian qua: Ngập úng trong nội đô.
Đây là dẫn chứng tiêu biểu cho việc Hà Nội đã thực hiện được tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII là: "Hà Nội đã nói là làm-làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng".
Để đạt được kết quả như vậy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội đã có sự chuyển biến rất tích cực, quyết liệt; kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ với tinh thần "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Thành ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh để giải quyết những vấn đề bức xúc và tìm các giải pháp để xử lý 5 điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô, gồm: Ùn tắc giao thông, trật tự đô thị, ô nhiễm môi trường, úng ngập, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thực tiễn cho thấy, nghị quyết vận hành có hiệu quả hay không thì yếu tố đầu tiên và cũng là quan trọng nhất chính là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương. Hay nói cách khác, đó là phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của người đứng đầu.
Rõ ràng, cùng một chủ trương của Trung ương, khi người đứng đầu bộ, ngành, địa phương có năng lực tổ chức, đủ tâm và tầm sẽ biết soi chiếu vào tiềm năng, thế mạnh của bộ, ngành, địa phương mình để có những quyết sách mang tính đột phá. Họ không chờ những yếu tố đến từ bên ngoài, mà chủ động tìm giải pháp vượt qua khó khăn; không chờ “cầm tay chỉ việc” mà hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.
Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết được thể hiện ở khả năng vận dụng, triển khai sáng tạo trong thực tiễn, bởi thực tiễn luôn biến đổi không ngừng. Nếu người lãnh đạo chỉ muốn an toàn sẽ thực hiện nghị quyết theo kiểu trông chờ hướng dẫn, rồi từ đó rập khuôn. Kiểu ỷ lại như vậy chính là căn nguyên làm triệt tiêu tinh thần đổi mới, động lực sáng tạo. Kết quả là, chủ trương thì hay nhưng hiệu quả lại rất thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng, tổ chức thực thi hiệu quả nghị quyết phụ thuộc quyết định ở chất lượng đội ngũ cán bộ. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thực tế cho thấy, nghị quyết có hay đến đâu cũng phải thông qua bàn tay, khối óc và nhất là tinh thần tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận của nhân dân thì mới mang lại hiệu quả. Nơi nào cán bộ có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ tốt, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, nơi đó chính sách được thực thi đúng, đủ, hiệu quả cao. Nơi nào phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, nơi đó nghị quyết có sức sống bền vững. Nếu bộ máy quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu thì mọi chủ trương tốt đẹp của Đảng cũng trở nên méo mó khi vận hành trong thực tiễn. Hiệu quả thực thi nghị quyết thực sự là cuộc sát hạch về bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, đạo đức của cán bộ, đảng viên trước nhân dân, cũng chính là thước đo chính xác nhất lòng tin của nhân dân với Đảng. Muốn nghị quyết của Đảng thực thi hiệu quả, chúng ta cần những người đứng đầu tận tâm, tận tụy, tận hiến.
Như vậy, khác biệt trong hiệu quả thực hiện nghị quyết không nằm ở nội dung mà nằm ở năng lực tổ chức.
(còn nữa)












