Thương mại điện tử trị giá hàng chục tỷ USD và bài toán giữ niềm tin người tiêu dùng
Thương mại điện tử Việt Nam đạt quy mô khoảng 31 tỷ USD năm 2025, song hàng giả, gian lận thương hiệu và những bất cập trong giải quyết khiếu nại vẫn đặt ra thách thức lớn. Thực hiện Nghị quyết 57, yêu cầu đặt ra là liên thông dữ liệu, xác thực trách nhiệm và bảo vệ người tiêu dùng.

hương hiệu cam Vinh được truy xuất nguồn gốc. Ảnh: Nguyễn Oanh/TTXVN
Thị trường lớn nhanh, niềm tin đứng trước thử thách
Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử đang mở rộng không gian kinh doanh và tiêu dùng, nhưng cũng làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý chất lượng hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người mua. Khi hàng triệu giao dịch được thực hiện qua các nền tảng số, niềm tin không thể chỉ dựa vào hình ảnh sản phẩm, đánh giá trực tuyến hay uy tín của sàn giao dịch.
Theo dự thảo Đề án Phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 của Bộ Công Thương, quy mô thương mại điện tử Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25% so với năm trước và chiếm khoảng 11% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ. Với khoảng 60% dân số tham gia mua sắm trực tuyến, Việt Nam nằm trong nhóm ba thị trường thương mại điện tử lớn nhất ASEAN và nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới.
Đáng chú ý, tổng doanh số của bốn sàn Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki năm 2025 đạt khoảng 429.700 tỷ đồng, chiếm khoảng 68% doanh số nội địa. Đáng chú ý, chỉ riêng hai nền tảng Shopee (51,15%) và TikTok Shop (46,46%) đã nắm giữ tới 97,61% tổng doanh số của nhóm bốn sàn này. Sự tập trung thị phần cho thấy vai trò ngày càng lớn của các nền tảng trong kết nối người bán với người mua, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm kiểm soát hàng hóa và bảo vệ giao dịch.
Tuy nhiên, tăng trưởng doanh số chưa đồng nghĩa với chất lượng thị trường được cải thiện tương ứng. Theo số liệu của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia được Bộ Công Thương dẫn lại, trong 896 đơn, thư phản ánh, khiếu nại tiếp nhận năm 2025, lĩnh vực thương mại điện tử chiếm 191 vụ, tương đương 21,3%, đứng đầu các nhóm hàng hóa, dịch vụ. Cùng năm, lực lượng chức năng đã yêu cầu gỡ bỏ gần 50.000 sản phẩm vi phạm và ngăn chặn khoảng 13.000 gian hàng sai phạm.
Những con số trên phản ánh hai mặt của quá trình số hóa thương mại. Một mặt, nền tảng trực tuyến giúp hàng hóa tiếp cận người tiêu dùng nhanh hơn, giảm khoảng cách địa lý và mở rộng cơ hội kinh doanh. Mặt khác, tốc độ giao dịch, sự đa dạng của người bán và tính phức tạp của chuỗi cung ứng cũng khiến việc kiểm soát chất lượng, xác minh thông tin và xử lý vi phạm trở nên khó khăn hơn.
Bộ Công Thương chỉ ra nhiều bất cập như hàng hóa không đúng mô tả, quảng cáo sai sự thật, hàng giả, hàng nhái, gian lận thương hiệu, rủi ro thanh toán và lộ lọt dữ liệu cá nhân. Đặc biệt, sự phát triển của hình thức bán hàng qua livestream và mạng xã hội khiến giao dịch diễn ra gần như tức thời, trong khi việc xác minh thông tin và truy cứu trách nhiệm có thể phải trải qua nhiều khâu độc lập.
Vấn đề đặt ra là nếu người tiêu dùng ngày càng dễ mua hàng nhưng lại khó xác định ai chịu trách nhiệm khi xảy ra vi phạm, tốc độ tăng trưởng của thị trường sẽ không tự động chuyển hóa thành niềm tin bền vững.
Điểm nghẽn không chỉ ở hàng giả mà còn ở dữ liệu phân tán
Một trong những nguyên nhân khiến việc kiểm soát rủi ro thương mại điện tử gặp khó khăn là thông tin về người bán, hàng hóa và giao dịch chưa được kết nối đầy đủ trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Khi mỗi chủ thể chỉ nắm giữ một phần dữ liệu, việc phát hiện sai phạm và xác định trách nhiệm thường diễn ra sau khi người tiêu dùng đã chịu thiệt hại.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, khả năng định danh người bán, kiểm chứng thông tin và truy xuất nguồn gốc sản phẩm còn rất lỏng lẻo. Một chủ thể có thể mở nhiều tài khoản ảo hoặc gian hàng tạm thời trên các kênh khác nhau. Trong khi đó, nguồn hàng đưa lên sàn thiếu tính chuẩn hóa, còn việc phối hợp giữa người bán, nền tảng, đơn vị vận chuyển và thanh toán trong giải quyết khiếu nại, hoàn tiền, đổi trả chưa thống nhất, đẩy rủi ro về phía người tiêu dùng.
Điều này tạo ra khoảng trống trách nhiệm. Khi một sản phẩm bị phát hiện giả mạo hoặc không bảo đảm chất lượng, việc xác định nguồn hàng, chủ thể kinh doanh và các giao dịch liên quan có thể gặp khó khăn nếu dữ liệu không đủ tin cậy hoặc không thể đối chiếu giữa các bên.
Trao đổi với phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính Ngân hàng Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng thương mại điện tử phát triển bền vững cần được xây dựng trên ba nền tảng: hàng hóa minh bạch, giao dịch an toàn và quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ thuận tiện.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, chuyển đổi số không nên chỉ tập trung vào khâu bán hàng mà phải được triển khai xuyên suốt từ nguyên liệu, sản xuất, nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản, vận chuyển và phân phối. Những dữ liệu quan trọng cần được liên kết với từng lô hàng, xác định được chủ thể chịu trách nhiệm và hỗ trợ truy tìm khi phát sinh vấn đề.
Đáng chú ý, ông Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc không thể dừng ở việc gắn mã QR lên sản phẩm. Thông tin phía sau mã phải đáng tin cậy, được cập nhật, đối chiếu và có cơ chế hạn chế sao chép. Hồ sơ số cũng không thể thay thế hoạt động kiểm nghiệm chất lượng thực tế.
Nhận định này cho thấy sự khác biệt giữa số hóa thông tin và quản trị dựa trên dữ liệu. Một sản phẩm có mã QR, một gian hàng có hồ sơ trực tuyến hay một đơn hàng có lịch sử giao dịch chưa đủ để bảo đảm an toàn nếu thông tin không được xác thực và không thể truy cứu trách nhiệm.
Chẳng hạn, khi người mua phát hiện sản phẩm không đúng mô tả hoặc có dấu hiệu giả mạo, thông tin cần được kết nối từ đơn hàng đến người bán, nguồn cung, đơn vị vận chuyển và nền tảng giao dịch. Nếu các dữ liệu này tách rời, quá trình giải quyết có thể kéo dài, còn đối tượng vi phạm có cơ hội tiếp tục kinh doanh dưới danh tính khác.
Ngược lại, khi dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ theo đúng thẩm quyền, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, như nhiều gian hàng sử dụng hồ sơ trùng lặp, thông tin chứng nhận không nhất quán hoặc số lượng phản ánh tăng đột biến đối với một sản phẩm.
Như vậy, chống hàng giả trên thương mại điện tử không chỉ là câu chuyện tăng cường kiểm tra và xử phạt, mà còn là bài toán xây dựng năng lực xác thực, giám sát và truy xuất trách nhiệm dựa trên dữ liệu.

Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính Ngân hàng Trường Đại học Nguyễn Trãi. Ảnh: NVCC
Từ Nghị quyết 57 đến yêu cầu bảo vệ niềm tin trong từng giao dịch
Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW đòi hỏi chuyển đổi số trong thương mại điện tử phải đi vào chất lượng quản trị, khả năng liên thông dữ liệu và hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng, thay vì chỉ chú trọng mở rộng quy mô giao dịch. Đây là điều kiện để những thành quả của kinh tế số mang lại lợi ích thiết thực và bền vững.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển đất nước; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng, kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin của tổ chức, cá nhân.
Vận dụng vào thương mại điện tử, yêu cầu này trước hết đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện hạ tầng xác thực người bán, truy xuất nguồn gốc hàng hóa và kết nối thông tin giữa các chủ thể trong chuỗi giao dịch.
Theo định hướng được Bộ Công Thương nêu trong dự thảo đề án phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử, cần tăng cường định danh, xác thực chủ thể kinh doanh, kết nối dữ liệu giao dịch để truy vết trách nhiệm khi xảy ra vi phạm. Đồng thời, thông tin về người bán, nguồn gốc hàng hóa và lịch sử giao dịch cần được sử dụng hiệu quả hơn để cảnh báo, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, kinh doanh hàng không rõ nguồn gốc, ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm kiểm soát từ phía các nền tảng.
Tuy nhiên, kết nối dữ liệu không có nghĩa tập trung mọi thông tin vào một hệ thống duy nhất hoặc chia sẻ không giới hạn. Điều quan trọng là xác định những dữ liệu cần thiết, chuẩn hóa cách trao đổi, phân quyền truy cập và bảo vệ thông tin cá nhân. Mỗi bên phải chịu trách nhiệm về độ chính xác của dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.
Từ góc độ thực tiễn, ông Nguyễn Quang Huy đề xuất từng bước xây dựng cơ chế đối chiếu thông tin giữa cơ quan quản lý, đơn vị cấp chứng nhận và nền tảng thương mại điện tử. Các hệ thống có thể phân loại mức độ rủi ro, phát hiện hồ sơ trùng lặp, chứng nhận không còn hiệu lực hoặc những phản ánh bất thường từ người tiêu dùng.
Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ phân tích dữ liệu có thể hỗ trợ sàng lọc dấu hiệu vi phạm trên quy mô lớn. Tuy nhiên, kết quả cảnh báo cần được kiểm chứng, có cơ chế giải trình và sửa dữ liệu sai để tránh ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hợp pháp.
Cùng với phát hiện sớm, một yêu cầu quan trọng khác là bảo vệ người tiêu dùng bằng quy trình giải quyết khiếu nại thuận tiện. Theo ông Nguyễn Quang Huy, người mua cần có khả năng gửi phản ánh trực tiếp từ đơn hàng, nhận mã hồ sơ và theo dõi tiến độ xử lý. Nền tảng, người bán, đơn vị vận chuyển và thanh toán phải phối hợp giải quyết đổi trả, hoàn tiền và tranh chấp theo trách nhiệm pháp luật.
Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm từ xử lý vi phạm sau khi xảy ra sang phòng ngừa rủi ro ngay trong quá trình giao dịch. Người mua không chỉ được cung cấp thêm thông tin, mà còn có cơ chế bảo vệ rõ ràng khi quyền lợi bị xâm phạm.
Bên cạnh giải pháp công nghệ, việc nâng cao kỹ năng số cho người dân và doanh nghiệp cũng cần được chú trọng. Người tiêu dùng phải biết nhận diện gian hàng giả mạo, quảng cáo thiếu căn cứ, đường dẫn lừa đảo và những yêu cầu chuyển tiền ngoài nền tảng. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực xác minh nhà cung cấp, quản lý chất lượng sản phẩm, bảo vệ dữ liệu và xử lý khiếu nại.
Đối với cơ quan quản lý, hoạt động giám sát cần được tổ chức thường xuyên trên cơ sở dữ liệu rủi ro, kết hợp kiểm tra thực tế và kiểm nghiệm sản phẩm khi cần thiết. Những lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và an toàn người tiêu dùng, như thực phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và hàng hóa dành cho trẻ em, cần được ưu tiên.
Trong dài hạn, hiệu quả thực hiện Nghị quyết 57 trong thương mại điện tử không chỉ nên được đánh giá bằng doanh số, số lượng người mua hay số gian hàng tham gia thị trường. Những chỉ số như khả năng xác thực người bán, tỷ lệ hàng hóa có thông tin truy xuất đáng tin cậy, thời gian xử lý khiếu nại và hiệu quả phát hiện, ngăn chặn vi phạm cũng cần được coi trọng.
Thị trường thương mại điện tử 31 tỷ USD cho thấy tiềm năng lớn của kinh tế số Việt Nam. Nhưng để tiềm năng ấy trở thành động lực phát triển bền vững, cần giải quyết những điểm nghẽn về dữ liệu, trách nhiệm và niềm tin.
Tinh thần Nghị quyết 57 không chỉ là đưa nhiều hoạt động kinh tế lên môi trường số, mà còn phải sử dụng công nghệ và dữ liệu để nâng cao chất lượng quản trị, bảo vệ quyền lợi người dân và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch. Khi mỗi sản phẩm có thể truy xuất nguồn gốc, mỗi người bán có thể xác định trách nhiệm và mỗi khiếu nại được xử lý thuận tiện, tăng trưởng thương mại điện tử mới thực sự đi đôi với niềm tin của người tiêu dùng.


