Thương mại hóa nghiên cứu khoa học: Cần cú hích từ cơ quan quản lý

Là một trong những đơn vị dược nội địa miệt mài đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), CTCP Sao Thái Dương đã gặt hái được nhiều thành tựu khoa học đáng kể. Tuy nhiên, hành trình đưa các sản phẩm nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường và vươn ra quốc tế còn gặp nhiều thách thức, đòi hỏi sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước.

Bề dày kinh nghiệm R&D và những thành tựu mang tầm quốc tế

Trình bày tham luận tại Hội nghị Liên minh Doanh nhân - Trí thức khoa học công nghệ 2026 với chủ đề "Triển vọng mùa Xuân", ThS. DS Nguyễn Thị Hồng Vân - Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sao Thái Dương cho biết, đơn vị được thành lập từ năm 2000 và chính thức trở thành doanh nghiệp khoa học công nghệ từ năm 2016. Sao Thái Dương hiện đã sở hữu 19 bằng độc quyền sáng chế. Trong suốt 10 năm qua, công ty đã tập trung nguồn lực rất lớn cho hoạt động nghiên cứu phát triển, đặc biệt tập trung vào việc khai thác nguồn dược liệu của Việt Nam để đưa vào ứng dụng trong các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho người dân, trong đó có thuốc và thực phẩm chức năng.

ThS. DS Nguyễn Thị Hồng Vân - Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sao Thái Dương trình bày tham luận tại Hội nghị Liên minh Doanh nhân - Trí thức khoa học công nghệ 2026 ngày 21/3.

ThS. DS Nguyễn Thị Hồng Vân - Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sao Thái Dương trình bày tham luận tại Hội nghị Liên minh Doanh nhân - Trí thức khoa học công nghệ 2026 ngày 21/3.

Sự đầu tư bài bản này được minh chứng qua việc trên cổng thông tin của nghiên cứu lâm sàng thế giới, Sao Thái Dương hiện xếp thứ 6 về số lượng các nghiên cứu lâm sàng được thực hiện tại Việt Nam, chỉ đứng sau các tập đoàn dược phẩm đa quốc gia khổng lồ như AstraZeneca, Novartis hay Sanofi.

Nổi bật trong các hoạt động R&D của doanh nghiệp là các nghiên cứu thuốc điều trị thoái hóa xương khớp và hội chứng cổ vai cánh tay. Cụ thể, với công thức mã TD 2019 điều trị hội chứng cổ vai cánh tay, công ty đã thực hiện tới 15 nghiên cứu từ tối ưu hóa công thức, tiền lâm sàng và lâm sàng, trong đó có 6 nghiên cứu thực nghiệm trên động vật được triển khai tại Đại học Y Hà Nội. Thử nghiệm lâm sàng pha 2 được tiến hành trên 180 bệnh nhân tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương theo chuẩn GCP. Tương tự, sản phẩm cho thoái hóa xương khớp (mã TD15) cũng đã trải qua 14 nghiên cứu quy mô.

Chất lượng của các công trình R&D này đã được quốc tế công nhận khi các bài báo nghiên cứu đều được đăng tải trên hệ thống tạp chí Scopus và cổng thông tin y học lớn nhất thế giới PubMed. Thậm chí, đại diện của doanh nghiệp còn được mời sang London (Anh) để báo cáo về thành tựu phát triển nghiên cứu thuốc này vào năm 2025. Từ các nghiên cứu cơ bản, doanh nghiệp đã ứng dụng thành công để tạo ra một hệ sinh thái sản phẩm chăm sóc xương khớp toàn diện, từ dùng trong đến dùng ngoài (dầu gừng Thái Dương, cao xoa Sao Thái Dương).

Nút thắt trong thương mại hóa và 4 kiến nghị tháo gỡ

Dù sở hữu tiềm lực R&D mạnh mẽ, con đường thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ của doanh nghiệp không hề bằng phẳng. Theo Thạc sĩ, Dược sĩ Nguyễn Thị Hồng Vân - Phó tổng giám đốc Sao Thái Dương, giai đoạn cuối cùng để đưa sản phẩm ra thị trường (tức là giai đoạn kiểm thử, hay thử nghiệm lâm sàng đối với thuốc dược phẩm) chính là giai đoạn khó khăn nhất, rủi ro nhất và tốn kém chi phí nhất.

Bên cạnh đó, việc bảo vệ tài sản trí tuệ để ‘vươn ra biển lớn’ cũng là một rào cản tài chính khổng lồ. Việc đăng ký một sáng chế tại Mỹ hoặc nộp các sáng chế PCT (Patent Cooperation Treaty - hệ thống nộp đơn quốc tế cho phép bảo hộ sáng chế đồng thời tại nhiều quốc gia (hơn 155 nước thành viên) chỉ bằng một đơn duy nhất, thay vì nộp từng đơn riêng lẻ) có chi phí quá đắt đỏ, khiến nhiều nhà sáng chế Việt Nam dù đã nộp hồ sơ nhưng sau đó đành phải bỏ cuộc giữa chừng vì không đủ nguồn lực theo đuổi.

Để khơi thông nguồn lực và giúp các sản phẩm khoa học công nghệ thực sự đến được tay người tiêu dùng, đại diện doanh nghiệp đã kiến nghị các cơ quan quản lý cần có giải pháp tháo gỡ qua 4 trọng tâm:

Thứ nhất là hỗ trợ trực tiếp nguồn vốn cho giai đoạn kiểm thử và thử nghiệm lâm sàng đối với ngành dược, giúp san sẻ gánh nặng chi phí và rủi ro với doanh nghiệp.

Thứ hai là khơi thông nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học. Dù chính sách này đã được đưa vào văn bản, nhưng thực tế hiện nay các doanh nghiệp khoa học công nghệ vẫn đang rất khó tiếp cận để nhận được nguồn vốn này.

Thứ ba là có chính sách hỗ trợ kỹ thuật và chi phí cho việc đăng ký sở hữu trí tuệ ở cả trong và ngoài nước, nhằm bảo vệ thành quả R&D và tạo đà xuất khẩu.

Cuối cùng là hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm khoa học công nghệ của Việt Nam vươn xa hơn trên thị trường quốc tế thông qua những thông tin chính thức từ cơ quan quản lý.

Có thể thấy, để những nỗ lực R&D miệt mài của doanh nghiệp không chỉ nằm trên giấy hay dừng lại ở phòng thí nghiệm, sự can thiệp, tháo gỡ khó khăn bằng các chính sách thực chất, dễ tiếp cận từ các bộ ngành chức năng là rất cần thiết để thúc đẩy thương mại hóa thành công.

Hiền Thảo

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/doanh-nghiep/thuong-mai-hoa-nghien-cuu-khoa-hoc-can-cu-hich-tu-co-quan-quan-ly/20260328112550399